Dùng vào việc thật

Làm nghiên cứu về tiếng Nam Bộ bắt đầu từ đâu?

Nghiên cứu tiếng Nam Bộ không cần bắt đầu bằng đề tài lớn. Nó bắt đầu bằng một câu hỏi đủ hẹp để trả lời được bằng chứng cứ mình tự thu, ví dụ một từ, một cách xưng hô, một nét âm ở một xã.

Viết cho sinh viên ngữ văn, người làm khóa luận và người nghiên cứu độc lập muốn có một cách làm chắc tay.

Làm nghiên cứu về tiếng Nam Bộ bắt đầu từ đâu?

Từ một câu hỏi hẹp và một nơi cụ thể: người ở xã này gọi cha bằng gì, từ này ở huyện này còn ai dùng, âm r ở cù lao này đọc ra sao. Câu hỏi hẹp cho phép tự thu chứng cứ trong vài tuần, và nhiều câu hỏi hẹp cộng lại mới thành hiểu biết về cả vùng.

Câu hỏi nghiên cứu ra sao là trả lời được?

Khi nó chỉ rõ đối tượng, nơi, và loại chứng cứ sẽ trả lời nó. Cách gọi cha ở xã X hôm nay là gì, trả lời bằng ghi âm ba mươi người ở ba lứa tuổi. Từ cà ràng có còn dùng ở huyện Y không, trả lời bằng hỏi hai mươi hộ. Câu hỏi thiếu nơi hoặc thiếu loại chứng cứ thì không trả lời được.

Tránh câu hỏi kiểu tiếng Nam Bộ có đặc điểm gì. Câu ấy không có nơi, không có loại chứng cứ, và đã có sách trả lời. Câu hỏi tốt là câu mà sách chưa trả lời và mình trả lời được bằng việc mình sắp làm.

Đề tài nào vừa sức cho một khóa luận?

Đề tài về một xã hoặc một nghề, trong một khoảng thời gian ngắn, với một loại chứng cứ chính: vốn từ nghề đan lát ở một xã, cách xưng hô trong ba đời của mười gia đình, biến thể âm r ở hai ấp cạnh nhau. Mỗi đề tài như vậy thu được trong một tháng và viết được trong một tháng nữa.

Tìm tư liệu ở đâu?

Ở bốn chỗ: từ điển, gồm từ điển lịch sử như Đại Nam Quấc âm tự vị và từ điển phương ngữ hiện đại; văn học Nam Kỳ và ký, khảo cứu của Sơn Nam, Vương Hồng Sển; kho ngữ liệu đã có như kho văn học của VietLayers; và người thật ngoài điền dã. Ba chỗ đầu cho biết cái gì đã được ghi, chỗ cuối cho cái chưa ai ghi.

Tư liệu nào là sơ cấp, nào là thứ cấp?

Sơ cấp là tiếng nói thật hoặc văn bản gốc: ghi âm điền dã, bản in đầu của một tác phẩm, số báo cũ. Thứ cấp là những gì người khác đã viết về tiếng nói ấy: từ điển, khảo cứu, bài báo khoa học. Kết luận của bài phải đứng trên sơ cấp; thứ cấp dùng để đối chiếu và để biết đã có ai làm.

Lập kho ngữ liệu nhỏ thế nào?

Chọn vài tác phẩm hoặc vài bản ghi âm đúng đề tài, chép thành văn bản thuần chữ, mỗi tệp một nguồn, mỗi câu một dòng nếu được, rồi ghi một bảng mô tả: tên nguồn, tác giả hoặc người nói, năm, nơi, ấn bản. Kho vài trăm nghìn chữ là đủ cho một khóa luận, và tra được bằng công cụ tìm chữ thông thường.

Điều quan trọng nhất là bảng mô tả. Một câu tìm được trong kho chỉ thành chứng cứ khi truy ngược được về nguồn, và bảng mô tả là cái làm việc đó.

Ghi chú tư liệu gồm những gì?

Với văn bản: tác giả, tác phẩm, năm, ấn bản, trang hoặc chương. Với ghi âm: người nói, tuổi, giới, nơi sinh, nơi sống, nghề, ngày ghi, nơi ghi, người ghi, và số thứ tự tệp. Thiếu một mục là mất một chiều để phân tích, và thiếu tuổi hoặc nơi sinh là gần như không dùng được cho phương ngữ học.

Điền dã là gì và chuẩn bị ra sao?

Điền dã là đi tới nơi người ta nói tiếng ấy để nghe và ghi. Chuẩn bị gồm ba thứ: một bộ câu hỏi dẫn chuyện chứ không hỏi từ rời, một máy ghi âm có pin và thẻ nhớ dự phòng, và một người quen trong xóm giới thiệu mình. Không có người giới thiệu thì người ta nói giọng khách, không nói giọng nhà.

Chọn người cung cấp tư liệu thế nào?

Chọn theo ba lứa tuổi và cả hai giới, người sinh ra và lớn lên tại chỗ, đủ số để mỗi nhóm có ít nhất năm người. Ưu tiên người làm nghề mà đề tài quan tâm. Ghi rõ tiêu chí chọn trong bài, để người đọc biết kết luận đúng cho ai và không đúng cho ai.

Ghi âm và ghi chép ra sao?

Xin phép trước, nói rõ ghi để làm gì, rồi để máy chạy suốt buổi và để người ta kể chuyện đời, chuyện nghề. Từ quý bật ra ở phút thứ bốn mươi, khi người ta quên máy. Ghi chép bên cạnh những chỗ mình chưa hiểu để hỏi lại cuối buổi, đừng ngắt giữa chừng.

Hỏi từ rời là cách kém nhất. Hỏi bà biết từ cũ nào không thì bà không nhớ. Hỏi hồi đó bà bắt cá bằng gì thì cả bộ từ tự ra, kèm cách dùng và kèm chuyện.

Phiên âm và chép lời thế nào?

Chép lời bằng chữ quốc ngữ đúng chính tả để tra được, và phiên âm bằng ký hiệu ngữ âm quốc tế ở những đoạn đề tài cần âm. Ghi cả thanh điệu. Đánh dấu chỗ nghe không rõ thay vì đoán. Mỗi dòng chép ghi số tệp và mốc thời gian để quay lại nghe được.

Phân tích bằng phương pháp nào?

Với từ: đếm người dùng theo lứa tuổi và theo nơi, rồi so các nhóm với nhau để thấy từ đang giữ hay đang mất. Với âm: so biến thể giữa các nhóm và giữa hai địa điểm gần nhau. Với cụm từ: xem hai tiếng có đi cùng nhau nhiều hơn mức ngẫu nhiên không. Phương pháp phải nêu trước khi thu, không chọn sau khi có số.

Một bảng đơn giản với hàng là từ, cột là nhóm tuổi, ô là số người dùng, đã đủ để thấy phần lớn điều đáng thấy. Thống kê phức tạp hơn chỉ cần khi số liệu đủ lớn.

Trích dẫn thế nào cho đúng?

Trích văn bản thì chép nguyên văn, giữ chính tả gốc, ghi tác giả, tác phẩm, năm, vị trí. Trích lời người nói thì ghi mã người nói, tuổi, nơi, ngày ghi, và mốc thời gian trong tệp. Nêu tên công trình và tác giả khi dựa vào họ. Không dẫn trang tra từ trên mạng làm nguồn.

Đạo đức nghiên cứu đòi hỏi gì?

Xin phép trước khi ghi và nói rõ ghi để làm gì. Giữ kín tên người nói trừ khi họ muốn được nêu tên. Không cắt lời để đổi ý người ta. Trả lại kết quả cho cộng đồng đã cho mình tư liệu, ít nhất là gửi lại bản ghi và bản chép cho gia đình. Người cho tiếng nói của mình là người góp phần lớn nhất vào bài.

Viết kết quả ra sao để người khác kiểm lại được?

Nêu câu hỏi, nêu cách chọn người và nơi, nêu số người theo từng nhóm, đưa bảng số liệu thô, rồi mới đến kết luận. Kèm bảng mô tả tư liệu và, nếu được, kèm bản chép lời. Người đọc phải đi lại được từng bước từ số liệu tới kết luận mà không cần tin lời mình.

Công bố ở đâu?

Ở khóa luận và tạp chí ngôn ngữ học nếu bài đủ dài, ở hội thảo về phương ngữ và văn hóa Nam Bộ nếu là kết quả bước đầu, và ở từ điển mở nếu kết quả là từ và nghĩa. Một bài thu được năm mươi từ nghề với bối cảnh đầy đủ là một đóng góp thật, dù chưa đăng ở đâu.

Góp kết quả vào từ điển thế nào?

Gửi danh sách từ kèm nghĩa, câu dùng, nơi, tuổi người nói và ngày ghi. Từ điển VietLayers nhận vào hàng chờ biên tập, giữ nguyên bối cảnh bạn gửi, tự viết định nghĩa bằng lời của mình và công bố sau khi có người đọc lại. Tên người góp được ghi nếu người góp muốn.

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Hoàng Thị Châu, Phương ngữ học tiếng Việt (2004). Giáo trình nền về phương pháp mô tả phương ngữ, dùng cho phần phân tích âm và từ.
  • Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973). Mẫu về cách đi điền dã và ghi lời người thật thành khảo cứu.
  • Nguyễn Văn Ái, Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994). Từ điển để đối chiếu từ thu được ngoài điền dã với từ đã ghi.

Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?

Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.

  • Câu hỏi nghiên cứu ra sao là trả lời được

    Một câu hỏi trả lời được chỉ rõ đối tượng, nơi, và loại chứng cứ sẽ trả lời nó. Mẫu ba phần, ví dụ tốt và xấu, và cách thu hẹp một đề tài rộng thành câu hỏi làm được.

  • Tìm tư liệu ở đâu

    Từ điển, văn học và khảo cứu, báo cũ và kho ngữ liệu, người thật: bốn nhóm tư liệu cho tiếng Nam Bộ.

  • Lập kho ngữ liệu nhỏ

    Chọn vài tác phẩm hoặc bản ghi âm đúng đề tài, chép thành văn bản thuần chữ, lập bảng mô tả nguồn, rồi tìm bằng công cụ có sẵn.

  • Điền dã và ghi âm

    Câu hỏi dẫn chuyện, máy ghi có dự phòng, người giới thiệu; xin phép, ghi cả buổi, ghi bối cảnh, chép lời có mốc thời gian.

  • Trích dẫn và đạo đức nghiên cứu

    Trích văn bản thì nguyên văn có tác giả, tác phẩm, vị trí; trích lời người nói thì có mã, tuổi, nơi, ngày; xin phép, giữ kín tên, trả lại kết quả. Từng quy tắc ở đây.

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.