Tiếng miền Nam
Cách gọi rộng nhất, chỉ chung lời nói của cả vùng phía Nam. Người nói dùng cách gọi này cho cả vùng, không phân biệt từng tỉnh.
Phương ngữ Nam Bộ của tiếng Việt
Tiếng miền Nam là phương ngữ của tiếng Việt, được nói ở Nam Bộ và Sài Gòn. Đây là một phương ngữ chứ không phải một ngôn ngữ riêng: nó dùng chung chữ viết và chung hệ ngữ pháp của tiếng Việt, còn phát âm, vốn từ và cách xưng hô thì mang nét riêng của vùng.
Định nghĩa
Tiếng miền Nam là phương ngữ của tiếng Việt, được nói ở Nam Bộ và Sài Gòn. Nó có hệ phát âm riêng, vốn từ riêng và lối xưng hô riêng, trong khi chữ viết và ngữ pháp là của tiếng Việt chung. Bên trong vùng, tiếng Sài Gòn và tiếng miền Tây cũng mang nét riêng của mình.
Cách gọi rộng nhất, chỉ chung lời nói của cả vùng phía Nam. Người nói dùng cách gọi này cho cả vùng, không phân biệt từng tỉnh.
Cách gọi gắn với vùng phương ngữ và vùng văn hóa Nam Bộ. Cách gọi này cho thấy rõ hơn rằng bên trong vùng vẫn có khác biệt giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Lớp tiếng đô thị bên trong phương ngữ Nam Bộ, mang dấu của giao thương, báo chí, trường học và nhập cư ở thành phố. Nó là một phần của tiếng Nam Bộ, không phải toàn bộ.
Đặc điểm nhận ra ngay
Nhận ra ngay ở phát âm, rồi tới vốn từ và cách xưng hô. Trong lời nói thường ngày ở Nam Bộ, thanh hỏi và thanh ngã thường không phân biệt, âm đầu v thường đọc gần với d, và một số âm cuối nhập vào nhau.
Thanh hỏi và thanh ngã thường phát âm như nhau. Âm đầu v thường đọc gần với d hoặc gi. Một số âm cuối nhập lại, ví dụ n đọc như ng, t đọc như c.
Nhiều vật dụng và việc thường ngày có tên gọi riêng: chén thay cho bát, ly thay cho cốc, mắc thay cho đắt, bông thay cho hoa, ghe và xuồng cho phương tiện trên sông rạch.
Cách gọi người thân và người lạ đi theo tuổi, vai và mức thân: má, tía, cậu, mợ, cô, chú, anh Hai, chị Ba. Một đại từ đổi sắc thái theo quan hệ chứ không cố định.
Trật tự câu và cách nối câu dùng chung với tiếng Việt toàn dân. Khác biệt chủ yếu nằm ở từ tình thái và tiểu từ cuối câu như nghen, hen, hông, chớ.
Vùng nói
Vùng nói chính là Nam Bộ, gồm Đông Nam Bộ với Sài Gòn và Tây Nam Bộ tức đồng bằng sông Cửu Long. Bên trong vùng vẫn có khác biệt tại chỗ, nên giọng Sài Gòn, giọng miền Tây và giọng vùng ven biển không hoàn toàn giống nhau.
Vùng quanh Sài Gòn, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, nơi nhập cư và công nghiệp làm vốn từ đổi nhanh.
Trung tâm của lớp tiếng đô thị trong phương ngữ Nam Bộ, nơi nhiều giọng vùng gặp nhau mỗi ngày.
Đồng bằng sông Cửu Long, nơi từ ngữ về sông rạch, mùa nước, ghe xuồng và miệt vườn còn dùng dày đặc.
Các lớp tiếp xúc
Vì vùng đất này hình thành qua nhiều đợt di dân và nhiều lần tiếp xúc ngôn ngữ. Vốn từ Nam Bộ mang dấu của tiếng Việt các vùng đi trước, tiếng Khmer, các phương ngữ tiếng Hoa như Triều Châu và Quảng Đông, rồi tiếng Pháp trong thời thuộc địa.
Các mốc dưới đây là khung đọc, không phải đường biên tuyệt đối. Từ ngữ luôn lan truyền, đổi nghĩa và sống khác nhau giữa các cộng đồng.
Trước thế kỷ 17
Địa danh và vốn từ ở phía Nam còn lưu dấu những cộng đồng có mặt trước các đợt di dân Việt quy mô lớn. Vì vậy, truy nguyên một từ phải để ngỏ khả năng tiếp xúc Việt, Khmer, Hoa và các lớp bản địa khác.
Thế kỷ 17 đến 19
Các cộng đồng mới đến thích nghi với sông, rạch, ruộng, vườn và mạng lưới chợ. Từ ngữ về phương hướng, mùa nước, ghe xuồng, thân tộc và cách làm ăn dần mang sắc thái riêng của Nam Bộ.
Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20
Chữ Quốc ngữ, nhà in, trường học và báo chí đưa lời nói miền Nam vào văn bản nhiều hơn. Tiếng Sài Gòn thời kỳ này nhận thêm lớp từ của hành chính, kỹ thuật và giao thương quốc tế.
Thế kỷ 20 đến nay
Văn chương Nam Bộ, cải lương, đờn ca tài tử, điện ảnh và đời sống số đưa từ vùng ra lưu thông rộng. Một số từ mất dần môi trường dùng, số khác đổi nghĩa hoặc trở thành tiếng Việt chung.
Vốn từ thường gặp
Thường gặp nhất là nhóm từ về gia đình, sông nước, chợ búa và sinh hoạt hằng ngày. Ví dụ má và tía để gọi cha mẹ, ghe và xuồng để chỉ phương tiện trên sông, bông thay cho hoa, mắc thay cho đắt, hổng là dạng nói thân mật của không.
hoa, trong nhiều cách gọi tự nhiên ở Nam Bộ
mẹ, và là một đại từ thân tộc giàu sắc thái
dạng phủ định thân mật, đọc theo quan hệ giao tiếp
phương tiện và cũng là không gian sống trên sông rạch
vùng vườn cây trái cùng cả một thế giới sinh hoạt
sân khấu, âm nhạc và lịch sử biểu diễn Nam Bộ
Tiếng Sài Gòn
Không. Tiếng Sài Gòn là lớp tiếng đô thị nằm bên trong phương ngữ Nam Bộ. Nó chia sẻ phần lớn phát âm và vốn từ với Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, đồng thời mang thêm dấu của giao thương, di dân và tiếp xúc ngôn ngữ ở thành phố.
Phương pháp
Bắt đầu bằng cách ghi từ trong câu thật, kèm người nói, địa điểm, thời gian và nét nghĩa, rồi mới đối chiếu từ điển, báo chí, văn học và bản ghi âm. Một danh sách từ rời không giữ được sắc thái và hoàn cảnh sử dụng.
Giữ nguyên câu, giọng, địa điểm, thời gian và thông tin người nói khi được phép.
So với từ điển cùng thời, bản quét, báo chí, văn học và nghiên cứu phương ngữ.
Không nhập các từ giống mặt chữ nhưng khác chữ gốc, khác nghĩa hoặc khác chức năng ngữ pháp.
Hiện nguồn, mức chắc chắn, chứng liệu đã duyệt và lịch sử sửa đổi để người đọc kiểm tra lại.
Văn hóa
Một đại từ đổi theo tuổi, vai, mức thân và tình huống. Ghi nghĩa mà bỏ quan hệ giao tiếp là bỏ mất phần quan trọng nhất của cách dùng.
Lịch sử
Từ trong báo Sài Gòn, tiểu thuyết, cải lương hay lời kể miền Tây có thể khác tần suất và sắc thái so với hôm nay. Ngày tháng và nguồn giúp tránh gán cái mới cho quá khứ.
Bảo tồn
Bản ghi âm, câu trọn vẹn, địa điểm và người kể giúp thế hệ sau biết từ đã sống ra sao. Mỗi khớp nối do máy tìm ra đều phải qua kiểm tra của người đọc.
Tủ tài nguyên mở
Có thể bắt đầu từ nghiên cứu phương ngữ của các trường đại học, hồ sơ di sản của UNESCO về đờn ca tài tử, tài liệu lưu trữ về Sài Gòn và thư mục luận văn về ngôn ngữ vùng. Bốn nguồn dưới đây đều mở và tra cứu được.
Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang, bản lưu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Sài Gòn
Khái quát phạm vi phương ngữ và vai trò của vốn từ Nam Bộ trong ca khúc, dân ca.
UNESCO Intangible Cultural Heritage, ghi danh năm 2013
Hồ sơ về một thực hành văn hóa được truyền dạy bằng nghe, nhớ, bắt chước và ứng tác.
Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước
Một cửa vào lịch sử đô thị, hạ tầng và các thiết chế đã tạo môi trường cho tiếng Sài Gòn.
Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Sài Gòn
Tra cứu luận văn và công trình về phương ngữ, báo chí và ngôn ngữ văn hóa Sài Gòn Nam Bộ.
Các đường dẫn ngoài dùng để tra cứu và kiểm chứng. VietLayers phân biệt nguồn giải nghĩa, nguồn nghiên cứu và chứng liệu văn học; một nguồn không tự thay thế chức năng của nguồn khác.
Bốn bước đọc tiếp
Đọc theo bốn bước: phân biệt và chọn, xem chứng cứ, cân nhắc khi dùng, rồi dùng vào việc thật. Mỗi bước có hai tới bốn bài, mỗi bài trả lời một vấn đề nêu ở trên, và mỗi bài lại mở ra năm bài ngắn giải thích từng thuật ngữ trong đó.
Phân biệt và chọn là lúc bạn hỏi nên viết cách nào, gọi cách nào cho đúng vai và đúng vùng. Các bài dưới đây giảm phân vân trước khi bạn sang phần xem chứng cứ.
Chơn hay chân, nhứt hay nhất, huê hay hoa: vì sao từ Nam Bộ có hai cách viết, cách nào đúng ở đâu, và chọn ra sao khi viết cho người đọc cả nước.
Tui, qua, bậu, ổng, bả, anh Hai, dì Út: xưng hô Nam Bộ đi theo thứ trong nhà, theo vai và theo mức thân.
Xem chứng cứ là lúc bạn hỏi điều này có thật không, có trong sách vở và trong tiếng nói thật không. Đọc xong phần chứng cứ thì quay lại phần phân biệt và chọn, hoặc sang phần cân nhắc khi dùng.
Năm thanh, phụ âm đầu uốn lưỡi, vần nhập và âm cuối nhập: ngữ âm Nam Bộ tả bằng chính hệ thống của nó, cùng các vùng nói bên trong Nam Bộ.
Tiếng Sài Gòn là lớp tiếng đô thị bên trong tiếng Nam Bộ, lớn lên cùng bến cảng, báo chí quốc ngữ, Chợ Lớn, sân khấu và người nhập cư.
Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vương Hồng Sển và báo chí quốc ngữ Nam Kỳ: đọc để chứng minh một từ có thật, có nghĩa gì và có từ bao giờ.
Khmer, Hoa, Pháp, Chăm, Mã Lai: tiếng Nam Bộ mượn từ nào từ đâu, từ mượn được Việt hóa ra sao, và làm sao phân biệt mượn thật với trùng âm.
Cân nhắc khi dùng là lúc bạn hỏi từ này dùng vào việc nào thì hợp, việc nào thì gây hiểu lầm, và từ nào đang mất dần. Hai bài dưới đây trả lời trước khi bạn bắt tay vào việc thật.
Văn nói, văn viết, giấy tờ, thư từ công việc, tên sản phẩm, quảng cáo: từ Nam Bộ hợp ở đâu, cần dè dặt ở đâu, và từ nào dễ bị hiểu khác khi ra khỏi vùng.
Nghề cũ mất thì từ mất theo, đồ vật mất thì tên mất theo, nghĩa đổi qua hai đời: nhận ra một từ đang mất, hiểu vì sao, và ghi lại trước khi không còn ai nói.
Dùng vào việc thật là lúc bạn hỏi bắt đầu tra, ghi và nghiên cứu như thế nào cho đúng. Hai bài dưới đây nói rõ từng bước để bạn làm được ngay hôm nay.
Tra theo nghĩa hay theo chữ, gõ dạng nào khi từ có hai cách viết, một mục từ gồm những phần nào, nhãn vùng và nhãn văn phong nói gì, và hiểu sao khi từ điển ghi chưa rõ.
Đặt một câu hỏi trả lời được, tìm tư liệu, lập kho ngữ liệu nhỏ, đi điền dã, ghi âm, chép lời, phân tích, trích dẫn và giữ đạo đức nghiên cứu: quy trình làm được ngay.
Câu hỏi thường gặp về tiếng miền Nam
Có. Tiếng miền Nam là một phương ngữ của tiếng Việt, không phải ngôn ngữ khác. Nó dùng chung một chuẩn chữ viết và chung hệ ngữ pháp của tiếng Việt, nên người Việt ở đâu cũng đọc hiểu được.
Trong phần lớn trường hợp, hai cách gọi chỉ cùng một vùng phương ngữ. Tiếng Nam Bộ nhấn vào vùng văn hóa và địa lý Nam Bộ, còn tiếng miền Nam đôi khi được dùng rộng hơn tùy ngữ cảnh lịch sử và tùy người nói.
Chữ viết là chuẩn chung cho cả nước, nên hãy học chính tả và ngữ pháp trước. Chọn giọng theo nơi bạn sẽ sống và người bạn sẽ nói chuyện, rồi tập nghe thêm giọng vùng khác để không bị lạ tai.
Hổng là dạng nói thân mật rất quen trong lời Nam Bộ, thường gặp trong hội thoại, lời nhân vật và mạng xã hội. Trong văn bản trang trọng thì vẫn viết không, còn hổng giữ sắc thái gần gũi của lời nói.
Tra ở trang từ điển của VietLayers. Mỗi mục từ tách theo nét nghĩa, kèm ví dụ, biến thể vùng, nguồn gốc khi có chứng cứ, và ghi rõ mức chắc chắn của từng thông tin.
Bắt đầu từ một từ bạn từng nghe ở miền Nam
Tra nghĩa, xem biến thể vùng, đọc chứng liệu văn học và lần theo lớp văn hóa bên trong cách dùng.
Vào từ điển