Xem chứng cứ
Văn học Nam Kỳ làm chứng liệu ngôn ngữ ra sao?
Một từ Nam Bộ được coi là có thật khi có người đã viết nó ra trong một tác phẩm xác định được. Văn học Nam Kỳ là kho chứng liệu lớn nhất cho việc đó, vì văn xuôi quốc ngữ ra đời ở Nam Kỳ và các nhà văn ở đây viết bằng đúng tiếng nói thường ngày.
Viết cho người nghiên cứu, sinh viên ngữ văn và người biên tập từ điển cần dẫn chứng cứ thay vì đoán.
Chứng liệu văn học là gì?
Là một câu văn có thật, trong một tác phẩm xác định được, có dùng từ đang xét. Chứng liệu cho biết từ đó có tồn tại, dùng với nghĩa gì, trong bối cảnh nào, và muộn nhất là từ năm nào. Một từ có chứng liệu là một từ đã được chứng minh, không còn là từ nghe nói.
Trong từ điển VietLayers, phần chứng liệu của một mục từ là những câu trích như vậy, kèm tên tác giả, tên tác phẩm và vị trí. Đó là phần làm cho mục từ khác một danh sách từ.
Vì sao văn học Nam Kỳ là kho chứng liệu tốt cho tiếng Nam Bộ?
Vì ba lẽ: văn xuôi quốc ngữ ra đời ở Nam Kỳ nên chứng liệu ở đây sớm nhất; các nhà văn Nam Kỳ viết bằng tiếng nói thường ngày chứ không viết văn bác học; và lời thoại của họ ghi cách xưng hô, cách nói của từng hạng người rất sát đời thật.
Đọc Hồ Biểu Chánh là nghe được người Nam Bộ thập niên 1920 nói chuyện. Đọc Sơn Nam là nghe được người miền Tây thời khẩn hoang. Ít vùng nào có kho văn học ghi tiếng nói của mình sớm và đều như vậy.
Báo chí quốc ngữ Nam Kỳ bắt đầu từ đâu?
Từ tờ báo quốc ngữ đầu tiên ra ở Sài Gòn năm 1865, với Trương Vĩnh Ký là người viết chính trong nhiều năm. Tiếp đó là các tờ báo, tạp chí và nhà in ở Sài Gòn suốt cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nơi tiếng Nam Bộ được in đều đặn lần đầu.
Báo chí là chứng liệu quý vì có ngày tháng chính xác. Một từ xuất hiện trên số báo ngày nào là có mốc ngày ấy. Với từ điển, đây là cách xác định niên đại chắc nhất.
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cho thấy gì?
Cho thấy tiếng Nam Bộ đầu thế kỷ 20 trọn vẹn: cách xưng hô theo thứ, các dạng chơn, nhơn, sanh, thiệt, cách nói của điền chủ, tá điền, thầy ký, cô gái quê, và một kho từ về ruộng vườn, ghe xuồng, nhà cửa. Ông viết hơn sáu mươi tiểu thuyết, gần như quyển nào cũng là chứng liệu.
Ngọn cỏ gió đùa và Con nhà nghèo là hai quyển nên đọc trước. Lời thoại trong đó dùng được làm chứng liệu cho hàng trăm mục từ, và ông hay để nhân vật giải thích từ ngay trong câu, rất tiện cho người tra.
Bình Nguyên Lộc ghi tiếng nào của Nam Bộ?
Ghi tiếng Sài Gòn và tiếng miền Đông giữa thế kỷ 20. Đò dọc kể một gia đình rời Sài Gòn về Thủ Đức và ghi cả hai giọng. Truyện ngắn Rừng mắm kể miền Tây thời khẩn hoang bằng tiếng của người mở đất. Ông còn là người khảo cứu ngôn ngữ, nên khi dùng một từ lạ ông thường chú thích.
Bình Nguyên Lộc là nguồn tốt cho lớp từ miền Đông, vùng ít được ghi hơn miền Tây, và cho cách người Sài Gòn nói giữa thế kỷ 20.
Sơn Nam ghi tiếng miền Tây thế nào?
Ghi bằng cả truyện và khảo cứu. Hương rừng Cà Mau là truyện, cho từ trong lời nói và lời kể. Văn minh miệt vườn và Lịch sử khẩn hoang miền Nam là khảo cứu, cho từ trong giải thích, kèm gốc gác của nghề và của vùng. Ông đi điền dã nhiều, nên từ trong sách ông là từ nghe từ người thật.
Với từ về sông nước, rừng, nghề nông và nghề cá ở miền Tây, Sơn Nam là chỗ tra đầu tiên. Miệt, bưng, láng, rạch, xẻo, cù lao, mùa nước nổi đều có trong sách ông với bối cảnh rõ ràng.
- miệt
- Vùng, xứ: miệt vườn, miệt thứ, miệt ruộng.
- bưng
- Vùng đất trũng ngập nước, nhiều lau sậy.
- cù lao
- Đảo nhỏ giữa sông, gốc tiếng Mã Lai theo nhiều nhà nghiên cứu.
Vương Hồng Sển ghi tiếng Sài Gòn ra sao?
Ghi bằng ký và hồi ức, với lối viết là kể tới đâu giải thích từ tới đó. Sài Gòn năm xưa và Tự vị tiếng Việt miền Nam là hai chỗ giữ từ cũ của Sài Gòn nhiều nhất, phần lớn là từ ông đã nghe và dùng trong đời mình, nên có cả cách dùng lẫn cảm nhận về từ.
Cần nhớ ông viết theo trí nhớ và theo ý riêng, nên có chỗ giải thích từ nguyên theo cách của ông chứ không theo phương pháp. Dùng ông làm chứng liệu cho cách dùng thì rất tốt, dùng làm kết luận về nguồn gốc thì phải kiểm lại.
Một câu văn được tính là chứng cứ khi nào?
Khi có đủ ba thứ: xác định được tác giả và tác phẩm, xác định được ấn bản hoặc bản in, và xác định được vị trí như chương, trang hoặc hồi. Thiếu một trong ba thì câu ấy chỉ là trích dẫn tham khảo, chưa phải chứng cứ, vì người khác không kiểm lại được.
Trong từ điển VietLayers, mỗi chứng liệu ghi tác giả, tác phẩm và vị trí, và một chứng liệu chưa xác định được vị trí thì được đánh dấu là cần soát chứ không đưa ra cho người đọc.
Một từ cần bao nhiêu chứng cứ?
Ít nhất hai, từ hai tác giả hoặc hai tác phẩm khác nhau. Một chứng cứ cho biết một người đã dùng từ đó, có thể là cách dùng riêng của người ấy. Hai chứng cứ độc lập cho biết từ đó sống trong cộng đồng. Với từ hiếm, một chứng cứ vẫn ghi, nhưng ghi rõ là mới thấy ở một chỗ.
Nguyên tắc này giống nguyên tắc của mọi việc chứng minh: một lần thấy là quan sát, hai lần độc lập mới là bằng chứng. Áp dụng đều thì từ điển không bị lẫn từ riêng của một nhà văn với từ chung của cả vùng.
Chứng liệu giúp xác định nghĩa ra sao?
Bằng bối cảnh của câu. Một từ đứng trong câu văn thật sẽ lộ nghĩa qua các từ xung quanh và qua việc nhân vật đang làm. Đọc năm câu có cùng một từ ở năm chỗ khác nhau là thấy được từ đó có mấy nét nghĩa, và nét nào thường gặp hơn.
Đây là cách từ điển VietLayers xếp nét nghĩa: nét gặp nhiều trong chứng liệu xếp trước, nét hiếm xếp sau, và mỗi nét có câu trích riêng để người đọc tự kiểm.
Chứng liệu giúp định niên đại ra sao?
Bằng năm của tác phẩm sớm nhất có từ đó. Nếu một từ đã có trong báo năm 1890 thì từ đó muộn nhất là 1890, có thể sớm hơn nhưng không muộn hơn. Đây là cách duy nhất định niên đại một từ khi không có ghi âm, và văn học Nam Kỳ cho mốc sớm hơn bất kỳ nguồn nào khác về tiếng Nam Bộ.
Đọc bản in nào để lấy chứng liệu?
Bản in gần với bản gốc nhất: bản in lần đầu, bản chụp của bản in lần đầu, hoặc bản in lại có ghi rõ giữ nguyên chính tả. Tránh các bản đánh máy đã sửa chính tả theo chuẩn hiện hành, vì chúng đã xóa mất chơn, nhơn, sanh và làm sai chứng liệu về cách viết.
Nếu chỉ có bản đã sửa, vẫn dùng được cho nghĩa và cho việc từ đó có tồn tại, nhưng không dùng được cho cách viết. Ghi rõ bản nào đã dùng là một phần của chứng liệu.
Trích thế nào cho đúng?
Chép nguyên văn, giữ chính tả gốc, giữ đủ câu để thấy bối cảnh, và ghi tác giả, tác phẩm, năm, vị trí. Nếu cần rút gọn thì cắt ở ranh giới câu và ghi rõ đã cắt. Không sửa lời tác giả, không thêm chữ vào trong câu trích.
Chứng liệu có thể sai ở đâu?
Ở bốn chỗ: nhà văn cách điệu lời thoại cho đẹp, nhân vật nói giọng vùng khác trong vùng, lỗi in của bản cũ, và người trích hiểu sai bối cảnh. Vì vậy chứng liệu cần đọc cả đoạn chứ không chỉ một câu, và cần hai chứng cứ độc lập trước khi kết luận.
Có một bẫy thường gặp: một từ lạ trong tiểu thuyết có khi là từ tác giả đặt ra cho vui, không ai dùng. Chỉ khi thấy nó ở một tác giả khác nữa thì mới yên tâm.
Tìm chứng liệu bằng công cụ nào?
Bằng kho ngữ liệu, tức là kho văn bản đã được nhập và đánh dấu tác phẩm, tác giả, vị trí, để tìm một từ là ra mọi câu có nó. VietLayers giữ một kho như vậy cho văn học Nam Kỳ, và phần chứng liệu trong mỗi mục từ được lấy ra từ đó rồi có người đọc lại trước khi công bố.
Người nghiên cứu có thể tự lập kho nhỏ cho đề tài của mình, bằng cách nhập vài tác phẩm đã chọn và tra bằng công cụ tìm chữ thông thường. Bài về làm nghiên cứu trong cụm này nói rõ cách làm.
Nên bắt đầu đọc từ tác phẩm nào?
Từ ba quyển, mỗi quyển cho một lớp tiếng: Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh cho tiếng Nam Bộ đầu thế kỷ 20, Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam cho tiếng miền Tây, và Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển cho tiếng Sài Gòn. Đọc xong ba quyển là có nền để đọc tiếp mọi thứ khác.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùa (1926). Tiểu thuyết lớn của ông, lời thoại và lời kể đều bằng tiếng Nam Bộ đầu thế kỷ 20.
- Hồ Biểu Chánh, Con nhà nghèo (1930). Tả đời sống nông thôn Nam Bộ, giàu từ về ruộng, nhà và họ hàng.
- Bình Nguyên Lộc, Đò dọc (1959). Tiểu thuyết về một gia đình rời Sài Gòn về miền Đông, ghi tiếng nói của cả hai nơi.
- Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau (1962). Tập truyện về miền Tây thời khẩn hoang, kho từ về sông nước, rừng và nghề.
- Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa (1960). Ký về Sài Gòn với rất nhiều từ cũ được tác giả giải thích tại chỗ.
- Bùi Đức Tịnh, Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1992). Khảo cứu về báo chí và tiểu thuyết quốc ngữ buổi đầu, phần lớn ở Nam Kỳ.
Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?
Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.
- Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Hơn sáu mươi tiểu thuyết viết bằng tiếng Nam Bộ đầu thế kỷ 20: Hồ Biểu Chánh là kho chứng liệu lớn nhất cho từ Nam Bộ.
- Truyện Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông và Sài Gòn giữa thế kỷ 20, vừa là nhà văn vừa là người khảo cứu.
- Ký của Sơn Nam
Sơn Nam đi điền dã cả đời và viết cả truyện lẫn khảo cứu về miền Tây. Ông ghi từ gì, ghi cách nào, và vì sao ông là chỗ tra đầu tiên cho từ sông nước và từ nghề.
- Báo chí quốc ngữ Nam Kỳ
Báo quốc ngữ ra ở Sài Gòn từ 1865 và là chứng liệu có ngày tháng chính xác nhất cho từ Nam Bộ.
- Một từ cần bao nhiêu chứng cứ
Hai chứng cứ độc lập là ngưỡng để một từ được coi là có thật. Vì sao là hai, thế nào là độc lập, và từ chỉ có một chứng cứ thì được xử lý ra sao.
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.