Hiểu cho đúng
Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh cho thấy gì về tiếng Nam Bộ?
Hồ Biểu Chánh viết hơn sáu mươi tiểu thuyết từ thập niên 1910 tới giữa thế kỷ 20, gần như tất cả bằng tiếng nói thường ngày của Nam Bộ: lời kể, lời thoại, cách xưng hô, các dạng chơn, nhơn, sanh, thiệt. Đó là kho chứng liệu lớn nhất và sớm nhất cho từ Nam Bộ trong văn xuôi.
Viết cho người nghiên cứu và người biên tập từ điển cần chứng liệu, và cho người Nam Bộ muốn đọc lại tiếng ông bà trong tiểu thuyết.
Hồ Biểu Chánh là ai?
Là nhà văn Nam Bộ sinh năm 1884 ở Gò Công, viết tiểu thuyết từ thập niên 1910 tới giữa thế kỷ 20, để lại hơn sáu mươi tiểu thuyết cùng nhiều thể loại khác. Ông là người đặt nền cho tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ và là tác giả được đọc rộng nhất ở Nam Bộ suốt nửa đầu thế kỷ 20.
Vì sao tiểu thuyết của ông là chứng liệu tốt?
Vì ông viết bằng tiếng nói thường ngày, cho người đọc thường ngày, và viết rất nhiều. Lời thoại của ông ghi cách xưng hô, cách nói của từng hạng người, và lời kể của ông dùng chính lớp âm Nam Bộ: chơn, nhơn, sanh, thiệt. Số lượng lớn cho phép thấy một từ ở nhiều chỗ, nhiều nghĩa.
Ông viết về ai và về đâu?
Về người Nam Bộ mọi hạng: điền chủ, tá điền, thầy ký, thầy giáo, cô gái quê, người buôn bán, người lên Sài Gòn. Về Gò Công, Mỹ Tho, Sài Gòn, miền Tây, và các vùng ông từng làm việc. Nhờ vậy từ về ruộng vườn, nhà cửa, họ hàng, nghề nghiệp và phố xá đều có trong sách ông.
Nên đọc quyển nào trước?
Ngọn cỏ gió đùa để thấy tiếng Nam Bộ trọn vẹn trong một truyện dài. Con nhà nghèo để thấy vốn từ nông thôn. Cay đắng mùi đời để nghe giọng kể gần lời nói nhất. Ba quyển ấy cho đủ lớp từ và lớp người để đọc tiếp mọi quyển khác.
Lớp từ nào có nhiều nhất trong sách ông?
Từ về gia đình và xưng hô, từ về ruộng đất và nghề nông, từ về tiền bạc và giấy tờ, và các dạng Hán Việt đọc theo lối Nam Bộ. Ông hay để nhân vật giải thích từ ngay trong câu, nên nhiều từ tự có định nghĩa ngay tại chỗ.
- điền chủ
- Người có ruộng cho thuê, nhân vật thường gặp.
- tá điền
- Người thuê ruộng làm, nhân vật thường gặp.
- thầy ký
- Người làm việc giấy tờ, lớp người mới thời ấy.
- nhơn ngãi
- Nhân nghĩa, cách viết Nam Bộ dùng suốt trong sách ông.
Lấy một câu của ông làm chứng liệu thế nào?
Chọn câu có từ đang xét, chép nguyên văn giữ chính tả gốc, ghi tên tác phẩm, năm in đầu, và chương hoặc trang của bản đã dùng. Đọc cả đoạn quanh câu để chắc nghĩa, vì ông hay dùng một từ ở hai nghĩa trong cùng truyện.
Đọc bản in nào?
Bản in đầu hoặc bản chụp của nó là tốt nhất, vì giữ chính tả gốc. Nhiều bản in lại đã sửa chơn thành chân, nhơn thành nhân, và mất chứng liệu về cách viết. Nếu chỉ có bản đã sửa, dùng cho nghĩa và cho việc từ có tồn tại, không dùng cho cách viết.
Ông có cách điệu lời thoại không?
Ít hơn nhiều nhà văn khác, vì ông chủ trương viết cho người thường đọc và hiểu. Nhưng vẫn có: nhân vật của ông nói trọn câu và ít ngắt quãng hơn người thật. Vì thế lời thoại của ông tốt cho từ vựng và xưng hô, kém hơn cho nhịp nói.
Chỗ nào cần dè dặt khi dùng ông làm chứng liệu?
Ba chỗ: một từ chỉ thấy ở ông mà không thấy ở ai khác có thể là từ riêng của ông; nhân vật gốc vùng khác trong vùng có thể nói khác; và bản in cũ có lỗi. Với từ chỉ thấy ở ông, ghi là mới thấy ở một chỗ và tìm thêm ở tác giả cùng thời.
Ông có góp gì cho từ về Sài Gòn không?
Có, qua những truyện nhân vật lên Sài Gòn làm ăn, học hành, hoặc gặp cảnh phố xá. Lớp từ về xe cộ, nhà hàng, rạp hát, sở làm đầu thế kỷ 20 có trong các truyện ấy, và là chứng liệu sớm cho nhiều từ Sài Gòn nay đã cũ.
Xưng hô trong sách ông có đáng tin không?
Rất đáng tin, vì ông tả gia đình Nam Bộ đủ vai và để mỗi vai gọi nhau đúng lệ: theo thứ, theo nội ngoại, ổng bả ảnh chỉ trong lời kể về người vắng mặt. Muốn học xưng hô Nam Bộ đầu thế kỷ 20, đọc ông là đủ.
Nhiều tiểu thuyết của ông phóng tác từ sách nước ngoài, có ảnh hưởng tới chứng liệu không?
Không ảnh hưởng tới tiếng, vì ông đặt lại truyện vào Nam Bộ với người Nam Bộ và viết bằng tiếng Nam Bộ. Cốt truyện có thể mượn, còn từ ngữ và cách nói là của ông và của vùng. Từ điển lấy chứng liệu từ câu văn, không từ cốt truyện.
Từ điển VietLayers dùng ông thế nào?
Nhiều mục từ có chứng liệu trích từ ông, ghi tên tác phẩm và vị trí. Khi một từ có chứng liệu ở ông và ở một tác giả khác, mục từ đạt mức hai chứng cứ độc lập. Khi chỉ có ở ông, mục từ ghi rõ là mới thấy ở một chỗ.
Ông có nói gì về cách viết của mình không?
Có, ở vài lời tựa và bài trả lời, ông nói viết cho người bình dân đọc hiểu và cố ý dùng tiếng nói thường. Điều ấy giải thích vì sao sách ông ít từ bác học và nhiều từ đời sống, và vì sao nó thành chứng liệu tốt.
Đọc ông bằng cách nào để lấy được nhiều từ?
Đọc với sổ tay: gặp từ lạ hoặc từ có dạng Nam Bộ thì ghi từ, câu, tác phẩm, chương. Sau một quyển, sổ tay thường có vài trăm từ với chứng liệu đầy đủ. Đó là cách nhanh nhất để tự lập một kho chứng liệu nhỏ.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Hồ Biểu Chánh, Ngọn cỏ gió đùa (1926). Tiểu thuyết lớn, lời kể và lời thoại đều bằng tiếng Nam Bộ đầu thế kỷ 20.
- Hồ Biểu Chánh, Con nhà nghèo (1930). Tả nông thôn Nam Bộ, giàu từ về ruộng, nhà, họ hàng và tá điền.
- Hồ Biểu Chánh, Cay đắng mùi đời (1923). Một trong những tiểu thuyết sớm, giọng kể rất gần lời nói.
- Hồ Biểu Chánh, Chút phận linh đinh (1928). Nhiều lời thoại về gia đình và xưng hô.
Cùng giải thích cho bài Văn học Nam Kỳ làm chứng liệu ngôn ngữ ra sao, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.