Phân biệt và chọn

Viết từ Nam Bộ theo chính tả nào?

Từ Nam Bộ không có bộ chính tả riêng. Nó có một lớp âm đọc riêng, và lớp âm ấy được ghi bằng đúng bộ chữ quốc ngữ mà cả nước dùng chung. Chơn, nhứt, sanh, chánh là cách đọc lâu đời ở Nam Bộ của những chữ Hán Việt, và cách đọc ấy có lịch sử rõ ràng.

Viết cho người Nam Bộ muốn biết chữ mình nói viết ra sao, và cho người viết cần dùng giọng Nam Bộ đúng chỗ.

Từ Nam Bộ có chính tả riêng không?

Không. Từ Nam Bộ được viết bằng đúng bộ chữ quốc ngữ và đúng quy tắc dấu thanh, dấu phụ mà cả nước dùng chung. Cái riêng của Nam Bộ nằm ở lớp âm đọc, và khi ghi lớp âm ấy ra giấy thì mỗi âm được ghi theo cách phát âm của nó.

Vì vậy một chữ Hán có thể xuất hiện với hai dạng trong sách vở: dạng đọc theo lối Nam Bộ và dạng đọc theo chuẩn từ điển hiện hành. Chữ 真 vừa được ghi là chơn vừa được ghi là chân, chữ 一 vừa là nhứt vừa là nhất. Cả hai đều là chữ quốc ngữ hợp lệ, chỉ khác ở âm mà người viết chọn ghi.

Điều này khác với lỗi chính tả. Viết chơn không phải viết sai chân, mà là ghi lại một cách đọc có thật, được từ điển thế kỷ 19 chép ngay ở đầu mục và được văn học Nam Kỳ dùng suốt nửa đầu thế kỷ 20.

Chơn, nhơn, nhứt, sanh là gì và từ đâu mà có?

Đó là âm Hán Việt đọc theo lối Nam Bộ. Chơn là 真, nhơn là 人 hoặc 仁, nhứt là 一, sanh là 生. Người Nam Bộ giữ những cách đọc này từ nhiều đời, và chúng được ghi thành chữ ngay khi chữ quốc ngữ được dùng rộng ở Nam Kỳ cuối thế kỷ 19.

Về mặt âm, các dạng này đi theo vài đường đều đặn: vần ân đọc thành ơn (chân, nhân, thân thành chơn, nhơn, thơn trong một số từ), vần ât đọc thành ứt (nhất thành nhứt), vần inh đọc thành anh (sinh, chính, tính thành sanh, chánh, tánh), vần ênh đọc thành inh (lệnh thành lịnh).

Vì đi theo đường đều đặn nên khi gặp một từ mới, người quen tiếng Nam Bộ thường đoán được dạng Nam Bộ của nó: chân thành thành chơn thành, nhân nghĩa thành nhơn ngãi, sinh sản thành sanh sản, chính đáng thành chánh đáng.

chơn
真, chân: chơn thành, chơn chánh, chơn lý.
nhơn
人 và 仁, nhân: nhơn nghĩa, nhơn tình, nhơn duyên.
nhứt
一, nhất: nhứt định, đệ nhứt, nhứt trí.
sanh
生, sinh: sanh đẻ, sanh sản, sanh ý.
chánh
正 và 政, chính: chánh đáng, chánh sách, chơn chánh.
tánh
性, tính: tánh tình, tánh nết, bổn tánh.

Vì sao Huỳnh, Võ, Phước, Hường là cách đọc của Hoàng, Vũ, Phúc, Hồng?

Vì lệ kiêng tên vua và người trong hoàng tộc thời Nguyễn. Ở Đàng Trong rồi ở Nam Bộ, những chữ trùng với tên các chúa và vua Nguyễn phải đọc chệch đi: Hoàng thành Huỳnh, Vũ thành Võ, Phúc thành Phước, Hồng thành Hường, Chu thành Châu, Kính thành Kiếng.

Lệ này đi vào tên họ, tên đất và cả từ thường. Họ Huỳnh, họ Võ ở Nam Bộ chính là họ Hoàng, họ Vũ đọc chệch. Chữ kiếng trong kiếng đeo mắt, kiếng soi là chữ kính đọc chệch, và nó ở lại trong tiếng nói thường ngày rất lâu sau khi lệ kiêng đã hết.

Vì thế khi thấy một tên riêng viết Huỳnh, Võ, Phước thì không nên sửa thành Hoàng, Vũ, Phúc. Đó là dạng chính thức của cái tên, đã ghi trong giấy khai sinh và trên bia mộ nhiều đời.

huỳnh
Hoàng 黃, họ Huỳnh, màu huỳnh kim.
Vũ 武, họ Võ, võ nghệ, võ thuật.
phước
Phúc 福, hạnh phước, phước đức, tên Phước.
hường
Hồng 紅, màu hường, tên Hường.
châu
Chu 周, họ Châu, Châu Đốc.
kiếng
Kính 鏡, kiếng soi, kiếng đeo mắt.

Khi nào viết chơn, khi nào viết chân?

Viết chơn khi bạn đang ghi lại tiếng nói Nam Bộ, trích văn học Nam Kỳ, đặt tên mang giọng vùng, hoặc viết cho người đọc Nam Bộ. Viết chân khi văn bản phải theo chuẩn chính tả hiện hành: bài thi, giấy tờ, sách giáo khoa, văn bản đăng rộng cho cả nước.

Hai cách viết không đổi chỗ cho nhau được trong một số cụm đã cố định. Chơn chánh, chơn thành, chơn lý là cụm sống trong giọng Nam Bộ; đổi thành chân chính, chân thành, chân lý là đổi luôn sắc thái. Ngược lại, trong một biên bản họp thì chân thành cảm ơn là dạng người đọc cả nước chờ thấy.

Cách làm an toàn nhất là chọn một lối cho cả bài rồi giữ nguyên. Một bài vừa chơn vừa chân ở cùng một nghĩa sẽ bị đọc thành lỗi, dù mỗi dạng đứng riêng đều đúng.

Khi nào viết nhứt, khi nào viết nhất?

Cùng một nguyên tắc với chơn và chân. Nhứt đi với giọng Nam Bộ và văn học Nam Kỳ: nhứt định, đệ nhứt, nhứt trí, thứ nhứt. Nhất đi với chuẩn từ điển hiện hành. Trong cụm đã thành tên riêng hay tên hiệu thì giữ đúng dạng đã đặt, không sửa.

Có một nét đáng để ý: nhứt trong lời nói Nam Bộ còn dùng như một từ nhấn mạnh đứng cuối câu, kiểu số dách nhứt, ngon nhứt xứ. Ở vị trí này nhứt mang sắc thái thân mật mà nhất khó có được, nên khi ghi lời thoại thì nên giữ nhứt.

Tên riêng thì giữ cách viết nào?

Giữ đúng cách viết mà chủ nhân của cái tên đã dùng. Tên người, tên họ, tên đất, tên chùa, tên tiệm ở Nam Bộ thường mang dạng Huỳnh, Võ, Phước, Sanh, Chánh, và đó là dạng chính thức của chúng. Đổi tên riêng sang dạng chuẩn từ điển là đặt cho người ta một cái tên khác.

Địa danh cũng vậy. Bình Chánh, Phước Long, Vĩnh Phước, Thạnh Phú, Tân Thạnh là dạng đã ghi trên bản đồ và trong giấy tờ; thạnh là chữ thịnh đọc theo lối Nam Bộ và không bao giờ được viết lại thành Tân Thịnh.

Từ điển lấy cách viết nào làm đầu mục?

Từ điển tiếng Nam Bộ lấy dạng Nam Bộ làm đầu mục, vì đó là dạng người dùng gõ vào để tra. Dạng chuẩn hiện hành được ghi ngay dưới đầu mục như một dạng đối chiếu, để ai tra bằng dạng nào cũng tìm ra mục.

Trong từ điển VietLayers, mục chơn chánh có ghi rõ cặp đối chiếu chơn với chân và chánh với chính. Người tra chơn chánh hay chân chính đều đến cùng một mục, và mục đó nói rõ dạng nào sống ở đâu.

Chữ i và chữ y ở cuối chữ viết theo lối nào?

Sau một phụ âm, hai cách viết i và y ghi cùng một âm: lí và lý, kĩ và kỹ, mĩ và mỹ. Sách vở Nam Bộ đầu thế kỷ 20 nghiêng về y trong từ Hán Việt, nên lý, kỹ, mỹ, sỹ là dạng quen mắt trong văn học Nam Kỳ và trong tên riêng.

Khi tra từ điển, không cần lo mình gõ i hay y. Từ điển VietLayers so hai dạng bằng cùng một khóa, nên lí và lý ra cùng một mục. Khi viết, chọn một lối cho cả bài và giữ nguyên, và với tên riêng thì giữ đúng dạng chủ nhân đã dùng.

Dấu hỏi và dấu ngã viết ra sao khi nói không phân biệt?

Viết đúng dấu theo từ điển, dù lời nói Nam Bộ đọc hai dấu này gần như nhau. Chữ viết ghi từ, không ghi giọng, nên nghỉ ngơi vẫn viết dấu hỏi và nghĩ ngợi vẫn viết dấu ngã, kể cả khi người nói đọc hai chữ nghỉ và nghĩ giống hệt nhau.

Đây là chỗ người Nam Bộ hay do dự nhất khi viết, và có một mẹo cũ để nhớ: trong từ láy, dấu hỏi thường đi cùng thanh ngang và thanh sắc, dấu ngã thường đi cùng thanh huyền và thanh nặng. Nhỏ nhắn, sạch sẽ mang dấu hỏi; lặng lẽ, vội vã mang dấu ngã. Mẹo này đúng với phần lớn từ láy, không đúng với mọi từ, nên gặp từ lạ thì vẫn nên tra.

Từ có hai cách viết thì tra từ điển thế nào?

Gõ dạng nào bạn nhớ. Một từ điển tiếng Nam Bộ tốt sẽ so cả hai dạng về cùng một khóa và đưa bạn đến đúng mục. Nếu mục không hiện ra, thử dạng còn lại theo các cặp đều đặn: ơn với ân, ứt với ất, anh với inh, inh với ênh, y với i.

Nếu cả hai dạng đều không có, có thể từ đó chưa được biên tập, hoặc nó là một biến thể hẹp của một vùng. Khi ấy tra thành tố của từ, ví dụ tra chơn rồi tra chánh, thường vẫn ra được nghĩa gộp.

Trích dẫn văn học Nam Kỳ thì có được sửa chính tả không?

Không. Khi trích một câu của Hồ Biểu Chánh hay một mục của Đại Nam Quấc âm tự vị, giữ nguyên chơn, nhơn, sanh, huê, kiểng như bản gốc. Sửa lại là làm sai lời tác giả và xóa mất chính cái chứng cứ mà bạn định trích.

Nếu sợ người đọc không hiểu, để nguyên câu trích rồi chú thích ngay sau, ví dụ: nhơn ngãi, tức nhân nghĩa. Cách này giữ được chứng cứ mà vẫn giúp người đọc, và đó cũng là cách các công trình nghiên cứu vẫn làm.

Viết bài cho người đọc cả nước thì chọn lối nào?

Dùng chuẩn chính tả hiện hành cho phần dẫn dắt và giải thích, rồi giữ dạng Nam Bộ ở đúng chỗ nó mang nghĩa: lời thoại, câu trích, tên riêng, tên món, tên hiệu. Cách chia này cho người đọc ở đâu cũng theo được, mà giọng Nam Bộ vẫn còn nguyên ở chỗ cần nó.

Ví dụ một bài viết về món ăn miền Tây có thể nói cá lóc nướng trui trong phần dẫn, rồi giữ nguyên câu của bà chủ quán: nướng cho thiệt vàng, chớ nướng non là tanh. Chữ thiệt và chớ trong câu ấy là giọng người nói, không cần sửa thành thật và chứ.

Đặt tên quán, tên món, tên sản phẩm thì viết theo lối nào?

Chọn dạng mang giọng vùng khi bạn muốn cái tên nói ngay rằng nó đến từ Nam Bộ: Cơm Tấm Thiệt Ngon, Bún Mắm Chánh Gốc, Quán Nhứt. Chọn dạng chuẩn khi thương hiệu định đi khắp nơi và không muốn người đọc dừng lại ở cách viết.

Đã chọn rồi thì phải nhất quán trên bảng hiệu, thực đơn, bao bì và trang mạng. Một thương hiệu vừa Chánh Gốc trên bảng vừa Chính Gốc trên bao bì sẽ bị coi là in sai, dù cả hai đều là chữ đúng.

Làm sao biết một cách viết là biến thể thật chứ không phải lỗi gõ?

Một biến thể thật đi theo đường âm đều đặn và xuất hiện lặp lại trong sách vở hoặc tiếng nói. Chơn, nhứt, sanh có đủ hai điều đó. Một lỗi gõ thì không theo đường nào cả và chỉ xuất hiện một lần: chân gõ thành chăn, nhất gõ thành nhât.

Có ba câu để tự hỏi. Dạng này có đi theo một cặp âm quen như ân với ơn, inh với anh không? Nó có trong từ điển tiếng Nam Bộ hoặc trong văn học Nam Kỳ không? Nó có xuất hiện ở nhiều người, nhiều nơi không? Trả lời có cho hai trong ba câu thì đó là biến thể thật.

Có bảng đối chiếu nào để tra nhanh không?

Có. Phần lớn cặp cách viết ở Nam Bộ đi theo tám đường âm dưới đây, và biết tám đường này là đoán được dạng còn lại của hầu hết từ Hán Việt thường gặp.

ân thành ơn
chân chơn, nhân nhơn, thân thơn (trong thơn thớt).
ất thành ứt
nhất nhứt, thật thiệt (thật đi đường riêng thành thiệt).
inh thành anh
sinh sanh, chính chánh, tính tánh, lính lánh (ít gặp).
ênh thành inh
lệnh lịnh, mệnh mạng (mệnh đi đường riêng thành mạng).
oa thành uê
hoa huê, họa hoạ giữ nguyên, khoa khoa giữ nguyên.
an thành ơn
đàn đờn, càn cơn (trong càn khôn thành cơn khôn ở lời cũ).
ung thành ông
thung dung thong dong, dũng cảm dõng cảm ở lời cũ.
kiêng tên
Hoàng Huỳnh, Vũ Võ, Phúc Phước, Hồng Hường, Chu Châu, Kính Kiếng, Thịnh Thạnh.

Dạng Nam Bộ có dùng được trong bài thi và giấy tờ không?

Trong bài thi, hồ sơ và giấy tờ theo chuẩn chính tả hiện hành, dùng dạng chuẩn cho từ thường: chân, nhất, sinh, chính. Riêng tên riêng thì giữ nguyên dạng đã ghi trong giấy khai sinh và bản đồ: Huỳnh, Võ, Phước, Bình Chánh, Tân Thạnh.

Ranh giới nằm ở chỗ từ thường theo chuẩn, tên riêng theo chủ nhân. Một học sinh họ Huỳnh viết tên mình là Huỳnh trong bài thi là đúng, và viết chính đáng chứ không viết chánh đáng trong cùng bài ấy cũng là đúng.

Nên học cách viết Nam Bộ từ đâu?

Từ ba nguồn có sẵn: từ điển tiếng Nam Bộ để biết dạng đầu mục và dạng đối chiếu, văn học Nam Kỳ để thấy dạng ấy sống trong câu, và lời nói của người lớn tuổi trong nhà để nghe âm thật trước khi ghi ra chữ.

Thứ tự nên là nghe trước, đọc sau, rồi mới viết. Nghe cho quen tai cặp ân với ơn, inh với anh, rồi đọc Hồ Biểu Chánh để thấy chơn, nhơn, sanh trong câu văn thật, rồi mới tự viết. Viết trước khi nghe thì dễ tạo ra những dạng không có thật, kiểu đổi mọi ân thành ơn kể cả ở từ không bao giờ đọc như vậy.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Huình Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc âm tự vị (1895). Bộ từ điển ghi tiếng nói Nam Bộ cuối thế kỷ 19 bằng chữ quốc ngữ, nơi các dạng chơn, nhơn, sanh xuất hiện ngay ở đầu mục.
  • Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam (1993). Ghi lại cách nói và cách viết của người Sài Gòn và Nam Bộ đầu thế kỷ 20 qua trải nghiệm của chính tác giả.

Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?

Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.

  • Khi nào viết chơn, khi nào viết chân

    Chơn và chân là hai cách đọc của cùng một chữ Hán, vần ân đọc thành ơn theo lối Nam Bộ. Chơn đứng trong cụm nào, tra ra sao, và chọn cách nào cho từng loại văn bản.

  • Nhứt và nhất

    Nhứt là cách đọc Nam Bộ của chữ 一, cùng chữ với nhất. Nhứt đứng ở đâu, khi nào đổi được thành nhất, và vì sao nhứt ở cuối câu thì không đổi được.

  • Chữ i và chữ y ở cuối chữ

    Lí hay lý, kĩ hay kỹ, mĩ hay mỹ: hai cách viết ghi cùng một âm. Vì sao có hai cách, sách vở Nam Bộ nghiêng về lối nào, và chọn ra sao khi viết và khi tra.

  • Dấu hỏi và dấu ngã trong tiếng Nam

    Lời nói Nam Bộ đọc hỏi và ngã như nhau, chữ viết thì giữ hai dấu. Nhớ dấu bằng từ láy và từ Hán Việt, và tra từ điển để không phải đoán khi viết.

  • Khi nào chọn cách viết nào

    Một quy tắc quyết định cho mọi từ Nam Bộ có hai cách viết: hỏi ba câu về người đọc, loại văn bản và tên riêng, rồi chọn một dạng cho cả bài và giữ nguyên.

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.