Cân nhắc khi dùng
Từ Nam Bộ dùng trong văn viết và công việc thế nào?
Từ Nam Bộ dùng được trong văn viết, và dùng hay thì bài viết có giọng, có người thật. Điều cần cân nhắc là chỗ: lời thoại và bài kể chuyện chịu được nhiều giọng vùng, biên bản và hợp đồng thì không, còn tên sản phẩm và quảng cáo thì tùy khách hàng mình muốn nói với ai.
Viết cho người viết, người làm nội dung và người làm thương hiệu cần dùng giọng Nam Bộ đúng chỗ, và cho người Nam Bộ đi làm cần biết lúc nào nói tui, lúc nào nói tôi.
Từ Nam Bộ dùng trong văn viết được không?
Được, và nhiều từ Nam Bộ đã là từ chung của văn viết cả nước: miệt vườn, chợ nổi, ghe, xuồng, sông nước, mùa nước nổi. Câu hỏi đúng không phải có được dùng không, mà là dùng ở loại văn bản nào và cho người đọc nào.
Văn nói và văn viết đòi hỏi gì ở từ Nam Bộ?
Văn nói cho phép mọi từ: tui, hông, dữ, quá trời, thiệt, dễ sợ. Văn viết chia ra: bài kể chuyện, ký, tản văn chịu được gần hết; bài giải thích và bài tin chịu được từ đã vào văn viết chung; giấy tờ và văn bản trang trọng chỉ chịu được dạng chuẩn.
Quy tắc gọn: từ càng gần lời nói ngoài chợ thì càng chỉ nên nằm trong lời thoại hoặc trong bài có giọng người kể. Từ càng gần đồ vật và địa lý, như ghe, xuồng, rạch, thì càng đi được xa.
Từ nào mang sắc thái vùng miền mạnh trong câu?
Các từ phủ định và nhấn mạnh: hông, hổng, dữ, quá trời, dễ sợ, thiệt, chớ, hén. Chỉ một từ trong số này là câu đổi giọng ngay. Chúng rất mạnh trong lời thoại và rất lạc chỗ trong biên bản.
- hông
- Không, dạng hỏi ở cuối câu: đi hông, được hông.
- hổng
- Không, dạng phủ định: hổng biết, hổng có.
- dữ
- Rất, lắm: ngon dữ, đông dữ.
- quá trời
- Rất nhiều, rất: mưa quá trời, đẹp quá trời.
- dễ sợ
- Rất, đến mức ngạc nhiên: ngon dễ sợ, giỏi dễ sợ.
Biên bản, hợp đồng, giấy tờ viết theo lối nào?
Theo chuẩn chính tả hiện hành và từ chung: chân thành, nhất trí, chính đáng, bệnh, không. Tên riêng thì giữ đúng dạng của chủ nhân: Huỳnh, Võ, Phước, Bình Chánh. Giấy tờ là chỗ người đọc ở đâu cũng phải hiểu như nhau, nên không có chỗ cho giọng vùng.
Có một ngoại lệ đáng nhớ: khi biên bản chép lời khai hoặc lời phát biểu, phần trong ngoặc kép giữ nguyên lời người nói, kể cả tui và hổng. Sửa lời khai là làm sai biên bản.
Tên trong giấy tờ và tên dân gian xử lý thế nào?
Dùng tên trong giấy tờ cho phần chính thức, và ghi tên dân gian trong ngoặc khi cần cho người đọc nhận ra: cầu Thị Nghè, chợ Bà Chiểu, ngã tư Hàng Xanh. Với địa danh, tên dân gian thường là tên người ta thật sự dùng, nên bỏ hẳn là làm người đọc lạc.
Thư từ và tin nhắn công việc dùng giọng Nam Bộ tới đâu?
Tới mức người nhận cũng nói giọng ấy. Với đồng nghiệp Nam Bộ, tui, dạ, hén trong tin nhắn là bình thường và thân. Với đối tác ở xa hoặc thư gửi rộng, chuyển sang tôi và dạng chuẩn. Xưng hô là chỗ dễ lệch nhất, nên khi chưa chắc thì chọn tôi và anh chị.
Bài đăng mạng xã hội cho thương hiệu dùng giọng Nam Bộ khi nào?
Khi khách hàng của thương hiệu là người Nam Bộ hoặc khi giọng Nam Bộ là một phần của cái thương hiệu bán: quán ăn miền Tây, tour sông nước, đặc sản. Khi đó dữ, thiệt, hén trong bài đăng là đúng giọng khách. Thương hiệu bán cho cả nước thì giữ giọng vùng ở lời thoại và câu trích, còn phần dẫn viết chuẩn.
Đặt tên sản phẩm bằng từ Nam Bộ thế nào?
Chọn từ mà người ngoài vùng vẫn hiểu hoặc dễ đoán, và tránh từ có nghĩa khác ở nơi khác. Miệt vườn, chợ nổi, nước mắm nhĩ, cơm tấm, bánh xèo là tên đi xa được. Bà tám, mắc, dơ là từ có nghĩa khác ở nơi khác, đặt tên bằng chúng là nhận rủi ro.
Đã chọn dạng Nam Bộ thì viết nhất quán trên bảng hiệu, bao bì, thực đơn và trang mạng. Thiệt Ngon trên bảng và Thật Ngon trên bao bì sẽ bị coi là in sai.
Quảng cáo dùng giọng Nam Bộ khi nào hợp?
Khi giọng ấy nói đúng với người mua và không diễn. Một câu ngon dữ thần trong quảng cáo quán ăn miền Tây là đúng giọng; cùng câu ấy trong quảng cáo bảo hiểm là diễn. Người Nam Bộ nhận ra giọng diễn rất nhanh, và giọng diễn làm mất lòng tin hơn là không dùng giọng vùng.
Cách thử là đọc to câu quảng cáo cho một người Nam Bộ nghe. Nếu họ cười vì thấy đúng thì được. Nếu họ cười vì thấy giả thì bỏ.
Từ có phạm vi dùng hẹp là gì và xử lý ra sao?
Là từ chỉ dùng ở một tỉnh, một cù lao hay một nghề, người Nam Bộ nơi khác cũng không biết. Với từ như vậy, dùng được trong bài về đúng nơi ấy, kèm giải thích ngay lần đầu xuất hiện. Không đưa vào tên sản phẩm hay tiêu đề, vì người đọc không có cách nào đoán.
Từ điển VietLayers ghi nhãn vùng ở mức tỉnh hoặc vùng nhỏ khi có chứng cứ, để người viết biết từ nào đi xa được, từ nào chỉ đi trong xóm.
Từ Nam Bộ nào đã vào văn viết chung?
Những từ chỉ đồ vật, địa lý và đời sống mà nơi khác không có từ thay: miệt vườn, chợ nổi, ghe, xuồng, rạch, cù lao, mùa nước nổi, bánh xèo, cơm tấm, đờn ca tài tử. Chúng vào văn viết chung vì cả nước cần gọi tên những thứ ấy, và tên Nam Bộ là tên đúng.
Từ nào dễ bị hiểu khác khi ra khỏi vùng?
Những từ trùng mặt chữ với một từ chung nhưng khác nghĩa: thương ở Nam Bộ là yêu, dơ là bẩn, kỳ là lạ, mắc là đắt, bà tám là người hay chuyện, bịnh là bệnh. Trong bài viết cho người đọc rộng, hoặc thay bằng từ chung, hoặc để trong lời thoại có bối cảnh rõ.
- thương
- Yêu, quý mến; nghĩa mạnh hơn cách hiểu chung.
- mắc
- Đắt tiền: mắc quá, mắc dữ.
- kỳ
- Lạ, khó hiểu, không ổn: sao kỳ vậy.
- bà tám
- Người hay nói chuyện, hay bàn tán.
Viết báo cáo hay bài nghiên cứu về Nam Bộ có dùng từ địa phương được không?
Được, và nên, vì đó là đối tượng của bài. Quy tắc là lần đầu xuất hiện thì giải thích hoặc chú thích, và trích dẫn thì giữ nguyên chính tả gốc. Phần lập luận của bài thì viết bằng từ chung để người đọc ở đâu cũng theo được.
Dịch từ Nam Bộ sang tiếng khác xử lý sao?
Dịch nghĩa, rồi giữ từ gốc trong ngoặc nếu từ ấy là tên món, tên vật hay tên vùng: floating market kèm chợ nổi, orchard country kèm miệt vườn. Với từ mang sắc thái như dữ, thiệt, hén thì dịch bằng cách nói tự nhiên của tiếng đích, không cố tìm một từ tương đương.
Từ điển VietLayers ghi nghĩa tiếng Anh theo cách trả lời thẳng, để người dịch có điểm bắt đầu, và ghi ví dụ song ngữ để thấy sắc thái.
Kiểm tra bài viết trước khi đăng bằng gì?
Bằng ba câu hỏi: người đọc của bài ở đâu; từ Nam Bộ trong bài nằm ở lời thoại hay ở phần dẫn; và có từ nào trùng mặt chữ với từ chung mà khác nghĩa không. Trả lời xong ba câu là biết từ nào giữ, từ nào chuyển, từ nào cần chú thích.
Học cách chọn từ từ đâu?
Từ hai chỗ: từ điển, để biết nhãn vùng và nhãn văn phong của từng từ, và những bài viết hay về Nam Bộ đã đăng rộng, để thấy người viết giỏi đặt từ vùng ở đâu trong bài. Đọc mười bài như vậy là thấy quy tắc, và quy tắc ấy đúng với hầu hết trường hợp.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt (1988). Từ điển chuẩn thường được dùng để biết một từ có nhãn địa phương hay không trong văn viết chung.
- Nguyễn Văn Ái, Từ điển phương ngữ Nam Bộ (1994). Cho biết nghĩa và sắc thái của từ Nam Bộ để chọn đúng chỗ dùng.
Đọc tiếp bài nào để hiểu cho đúng từng ý?
Hiểu cho đúng là lúc bạn hỏi chữ này là gì, dùng ở đâu và vì sao ông bà nói vậy. Bài ở bậc này giải thích một thuật ngữ hoặc một vấn đề trong bài đứng trên nó, rồi dẫn bạn về lại bài đó.
- Văn nói và văn viết
Văn nói nhận mọi từ Nam Bộ, văn viết chia thành nhiều bậc. Từng bậc nhận từ nào, từ nào đi được xa, và cách chuyển câu nói thành câu viết mà giọng vẫn còn.
- Sắc thái vùng miền trong câu
Một chữ dữ, thiệt, hén là cả câu đổi giọng. Sắc thái vùng miền đến từ loại từ nào, mạnh yếu ra sao, và đặt ở đâu trong bài để có giọng mà không thành làm màu.
- Biên bản, hợp đồng, giấy tờ
Giấy tờ theo dạng chuẩn cho từ thường và giữ dạng gốc cho tên riêng. Quy tắc áp cho lời khai chép trong biên bản, cho địa danh, và cho những chỗ người soạn hay sai.
- Đặt tên sản phẩm và quảng cáo
Chọn từ Nam Bộ cho tên sản phẩm khi muốn tên nói ngay gốc gác, dùng giọng vùng trong quảng cáo khi khách ở trong vùng.
- Từ có phạm vi dùng hẹp
Có từ Nam Bộ chỉ một tỉnh, một cù lao hay một nghề biết. Cách nhận ra từ hẹp, cách dùng nó mà người ngoài vẫn theo được, và cách từ điển ghi phạm vi dùng.
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.