Hiểu cho đúng
Biên bản, hợp đồng, giấy tờ viết từ Nam Bộ thế nào?
Giấy tờ là bậc cao nhất của văn viết: người đọc có thể ở bất kỳ đâu, đọc sau nhiều năm, và không hỏi lại được, nên từ phải theo dạng chuẩn để ai cũng hiểu như nhau. Nhưng giấy tờ cũng là nơi tên riêng Nam Bộ đứng nhiều nhất, và tên riêng thì giữ dạng của chủ nhân. Hai quy tắc ấy gặp nhau trên cùng một trang.
Viết cho người soạn hợp đồng, biên bản, hồ sơ ở Nam Bộ, và cho người Nam Bộ cần điền giấy tờ cho đúng.
Giấy tờ dùng dạng nào cho từ thường?
Dạng chuẩn hiện hành: chân thành, nhất trí, chính đáng, bệnh, không, sinh. Không dùng chơn, nhứt, chánh, bịnh, hổng, sanh trong phần từ thường, dù chúng đúng ở nơi khác. Giấy tờ là chỗ mọi người đọc phải hiểu như nhau, nên không có chỗ cho giọng vùng.
Tên riêng thì sao?
Giữ đúng dạng của chủ nhân: Huỳnh, Võ, Phước, Sanh, Chánh trong tên người; Bình Chánh, Tân Thạnh, Phước Long, Vĩnh Phước trong tên đất. Đây là dạng đã ghi trong giấy khai sinh và trên bản đồ, và sửa sang dạng chuẩn là viết sai tên, có thể làm giấy tờ không khớp.
- huỳnh
- Họ Huỳnh, không viết thành Hoàng.
- võ
- Họ Võ, không viết thành Vũ.
- phước
- Tên Phước, không viết thành Phúc.
- tân thạnh
- Địa danh Tân Thạnh, không viết thành Tân Thịnh.
Cùng một trang vừa có chính đáng vừa có Bình Chánh có mâu thuẫn không?
Không. Chính đáng là từ thường, theo chuẩn. Bình Chánh là tên riêng, theo chủ nhân. Hai quy tắc áp cho hai loại chữ khác nhau, và một trang giấy tờ ở Nam Bộ thường có cả hai. Người đọc hiểu ngay, vì tên riêng viết hoa.
Chép lời khai, lời phát biểu trong biên bản thì sao?
Giữ nguyên lời người nói trong phần trích, kể cả tui, hổng, dữ. Biên bản chép lời là chứng cứ về điều người ta đã nói, và sửa lời là làm sai chứng cứ. Phần trích để trong ngoặc kép; phần ghi của người soạn thì theo chuẩn.
Lời khai có từ Nam Bộ mà người đọc ở xa không hiểu thì làm gì?
Chú thích trong ngoặc ngay sau, không sửa lời: tui hổng có ở đó (tôi không có ở đó). Cách này giữ được lời gốc mà người đọc ở đâu cũng theo được, và là cách các văn bản nghiêm túc vẫn làm với lời khai có từ địa phương.
Địa danh ghi theo tên nào?
Theo tên trong giấy tờ và bản đồ chính thức, kể cả khi tên ấy mang dạng Nam Bộ. Nếu tên dân gian khác tên chính thức và cần cho người đọc nhận ra, ghi tên dân gian trong ngoặc sau tên chính thức. Không ghi tên dân gian một mình trong giấy tờ.
Tên cơ quan, tên công ty có chữ Nam Bộ thì sao?
Giữ đúng như đã đăng ký. Công ty Phước Thạnh, tiệm Chánh Gốc là tên đã đăng ký và là tên pháp lý, viết khác là sai tên. Kiểm lại trên giấy đăng ký trước khi soạn, vì một chữ khác có thể làm hợp đồng không khớp.
Chỗ hay sai nhất trong giấy tờ ở Nam Bộ là gì?
Ba chỗ: sửa tên riêng sang dạng chuẩn vì tưởng là lỗi; để lọt dạng Nam Bộ ở từ thường vì quen tay như bịnh, sanh; và lỗi chính tả từ giọng như hỏi ngã, n ng, t c. Cả ba tránh được bằng một lượt đọc lại riêng cho tên riêng và một lượt cho từ thường.
Người soạn giấy tờ nên kiểm gì trước khi ký?
Bốn thứ: mọi tên riêng khớp giấy tờ gốc từng chữ; mọi từ thường ở dạng chuẩn; mọi câu trích để trong ngoặc kép và giữ nguyên; và hỏi ngã, n ng, t c đã tra ở chỗ do dự. Bốn thứ này là toàn bộ chỗ giấy tờ ở Nam Bộ có thể sai vì tiếng.
Hợp đồng dùng từ Nam Bộ có hiệu lực không?
Có, nếu các bên hiểu như nhau và tên riêng đúng. Nhưng từ Nam Bộ ở từ thường mở ra chỗ để hiểu khác, ví dụ thương, dơ, kỳ có nghĩa khác ở vùng khác. Vì thế hợp đồng dùng dạng chuẩn để không ai hiểu khác, không phải vì dạng Nam Bộ sai.
Giấy tờ viết cho người trong vùng đọc thôi thì có được nới không?
Không nên, vì giấy tờ có đời sống dài hơn người soạn nghĩ: nó được đọc lại sau nhiều năm, bởi người khác, ở nơi khác. Dạng chuẩn là cách bảo đảm ai đọc lúc nào cũng hiểu như nhau. Giọng vùng để dành cho chỗ khác.
Từ Nam Bộ đã vào văn viết chung thì dùng trong giấy tờ được không?
Được, khi nó là tên đúng của sự vật: ghe, xuồng, miệt vườn, chợ nổi, cù lao, rạch trong hợp đồng mua ghe hay giấy tờ đất ven rạch. Đây là từ chung, không phải giọng, và không có từ chuẩn nào thay được đúng nghĩa.
Dịch giấy tờ có từ Nam Bộ ra tiếng khác thì sao?
Dịch nghĩa, giữ tên riêng nguyên dạng, và với từ chỉ sự vật thì giữ từ gốc trong ngoặc sau bản dịch. Tên riêng không dịch, không đổi dạng, vì nó phải khớp với giấy tờ gốc từng chữ.
Từ điển giúp gì khi soạn giấy tờ?
Cho biết dạng chuẩn của một từ Nam Bộ khi người soạn quen nói dạng vùng, và cho biết từ nào là từ chung có thể đứng trong giấy tờ. Tra bịnh ra bệnh, tra sanh ra sinh là đủ cho phần từ thường.
Nên học soạn giấy tờ ở Nam Bộ từ đâu?
Từ một bộ giấy tờ mẫu đã soạn đúng, đọc và đánh dấu chỗ tên riêng, chỗ từ thường, chỗ trích lời. Sau vài bộ là thấy hai quy tắc và một ngoại lệ, và đó là toàn bộ điều cần nhớ.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
- biên bản
- hợp đồng
- chân thành
- nhất trí
- chính đáng
- huỳnh
- võ
- phước
- bình chánh
- tân thạnh
Cùng giải thích cho bài Từ Nam Bộ dùng trong văn viết và công việc thế nào, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.