Hiểu cho đúng

Nghề cũ mất thì từ mất theo ra sao?

Từ đi theo nghề. Một nghề có bộ từ về dụng cụ, động tác, sản phẩm và thời tiết của nó, và người làm nghề dùng bộ ấy mỗi ngày. Khi nghề mất, không còn việc để gọi tên, và cả bộ từ mất theo trong một hai đời. Ở miền Tây, nghề bắt cá bằng lờ đó nò đăng, nghề len trâu, nghề ăn ong, nghề chèo ghe chở hàng đều đang để lại từ mà ít người trẻ biết.

Viết cho người muốn hiểu vì sao ông bà có nhiều từ mình không biết, và cho người nghiên cứu muốn ghi bộ từ nghề.

Vì sao nghề mất thì từ mất theo?

Vì từ nghề chỉ có việc khi có nghề: không ai đặt lờ thì không ai nói lờ. Từ nghề không sống trong sách vở hay trong lời nói chung, nó sống trong tay người làm. Tay ngừng làm thì miệng ngừng gọi, và một đời sau thì tai ngừng hiểu.

Một bộ từ nghề gồm những gì?

Bốn nhóm: dụng cụ, động tác, sản phẩm, và điều kiện như con nước, mùa, gió. Nghề bắt cá có lờ, đó, nò, đăng là dụng cụ; đặt, dỡ, xổ là động tác; cá theo loại và cỡ là sản phẩm; nước rong, nước kém, mùa nước nổi là điều kiện. Ghi một nghề là ghi đủ bốn nhóm.

lờ
Đồ đan tre hình trụ, cá vào không ra.
đó
Đồ đan đón cá theo dòng chảy.
Hàng rào dẫn cá vào chỗ bắt.
đăng
Tấm chắn cắm ngang dòng để bắt cá.

Nghề len trâu để lại từ gì?

Len trâu là lùa trâu đi ăn ở vùng cao trong mùa nước nổi, khi đồng ngập không còn cỏ. Nghề này có bộ từ về đường đi, chỗ nghỉ, cách giữ bầy, và cách gọi người len. Nghề mất khi trâu không còn là sức kéo chính, và bộ từ ấy nay gần như chỉ còn trong truyện của Sơn Nam.

Nghề ăn ong để lại từ gì?

Ăn ong là đi lấy mật ong rừng tràm, có bộ từ về gác kèo cho ong làm tổ, về cách lấy mật, về mùa và về rừng. Nghề còn ở vài nơi vùng U Minh nhưng đang bớt, và bộ từ theo đó bớt dần ở người trẻ.

ăn ong
Đi lấy mật ong rừng.
gác kèo
Đặt thanh gỗ nghiêng trong rừng cho ong về làm tổ.

Nghề chèo ghe chở hàng để lại từ gì?

Bộ từ về loại ghe như ghe tam bản, ghe chài, ghe bầu, về bộ phận ghe, về cách chèo, chống, bơi, về con nước và về bến. Khi xe thay ghe trên nhiều tuyến, phần lớn bộ từ này lùi về người lớn tuổi và người còn sống bằng ghe.

ghe tam bản
Ghe nhỏ ba tấm ván, đi lại trong kênh rạch.
ghe chài
Ghe lớn chở hàng, có mui và có chỗ ở.

Nghề thủ công để lại từ gì?

Chằm lá là kết lá dừa nước thành tấm lợp, đươn đệm là đan cói thành đệm, và mỗi nghề có bộ từ về nguyên liệu, dụng cụ và sản phẩm. Khi tôn thay lá và nhựa thay đệm, bộ từ ấy mất theo, trừ ở vài làng nghề còn giữ.

chằm lá
Kết lá dừa nước thành tấm để lợp nhà.
đươn đệm
Đan cói, lác thành đệm; đươn là đan đọc theo lối cũ.

Từ nghề mất nhanh hơn từ thường không?

Nhanh hơn nhiều, vì từ nghề chỉ có một chỗ sống là nghề, còn từ thường sống ở nhiều chỗ. Một nghề có thể mất trong hai mươi năm, và bộ từ của nó đi hết trong một đời người. Từ thường thì mất chậm hơn vì có nhiều đường để tồn tại.

Từ nghề nào còn sống dù nghề đã mất?

Những từ đã đi vào thành ngữ, tên đất hoặc nghĩa bóng: cá vô lờ, đặt đó, gác kèo còn trong lời nói bóng và trong tên đất. Từ sống bằng nghĩa bóng sau khi nghĩa đen mất, và từ điển ghi nghĩa đen là lời cũ, nghĩa bóng là còn dùng.

Ghi một bộ từ nghề thì ghi thế nào?

Ngồi với người còn làm nghề, để họ làm và kể trong lúc làm, ghi âm và chụp dụng cụ. Từ hiện ra theo tay: cầm cái gì gọi cái ấy, làm động tác gì gọi động tác ấy. Hỏi từ rời thì họ quên; để họ làm thì bộ từ tự ra đủ bốn nhóm.

Ghi bộ từ nghề cần gì thêm ngoài từ?

Ảnh hoặc hình vẽ của dụng cụ, vì nhiều từ chỉ hiểu khi thấy vật. Và bối cảnh: người làm bao nhiêu tuổi, làm ở đâu, làm từ năm nào. Một bộ từ nghề có ảnh và bối cảnh là chứng cứ đủ để từ điển ghi từng từ với nghĩa rõ.

Từ điển ghi từ nghề thế nào?

Ghi nhãn nghề, nhãn vùng, và nhãn thời nếu nghề đã mất. Ghi định nghĩa bằng cách tả vật và tả việc, không bằng từ đồng nghĩa, vì từ nghề thường không có đồng nghĩa. Từ điển VietLayers ưu tiên ghi từ nghề đang mất vì đó là chỗ mất nhanh nhất.

Nghề mới có sinh từ mới không?

Có, và cùng cơ chế: nghề nuôi tôm, nghề trồng thanh long, nghề chạy xe công nghệ đều có bộ từ riêng đang hình thành. Ghi từ nghề mới lúc nó đang sinh cũng là việc từ điển, và dễ hơn ghi từ nghề cũ vì người làm đang sống và trẻ.

Người không làm nghiên cứu góp gì được?

Nếu trong nhà có người từng làm nghề cũ, ghi âm một buổi họ kể về nghề. Nếu trong xóm còn người làm, xin ngồi xem một buổi. Gửi bản ghi kèm tên nghề, nơi, tuổi người kể vào từ điển. Một buổi như vậy thường cứu được vài chục từ.

Nên đọc gì để thấy từ nghề trong bối cảnh?

Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam, vì mỗi truyện là một nghề với đủ bộ từ. Rồi Lịch sử khẩn hoang miền Nam để thấy nghề sinh ra từ đất thế nào. Đọc xong hai quyển là có bản đồ các nghề miền Tây và từ của chúng.

Bắt đầu ghi nghề nào trước?

Nghề nào trong xóm mình chỉ còn một hai người làm. Đó là nghề sắp mất và bộ từ sắp đi. Ghi nghề ấy trước, nghề còn nhiều người làm ghi sau. Thứ tự này là thứ tự của việc cứu từ.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

  • lờ
  • đó
  • đăng
  • len trâu
  • ăn ong
  • ghe tam bản
  • ghe chài
  • chằm lá
  • đươn đệm
  • gác kèo

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau (1962). Truyện về các nghề rừng và nghề nước thời khẩn hoang, ghi bộ từ của từng nghề.
  • Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973). Khảo cứu về các nghề thời mở đất và từ ngữ đi cùng.

Cùng giải thích cho bài Từ Nam Bộ nào đang mất, đang đổi nghĩa, còn bài nào?

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.