Hiểu cho đúng

Lớp từ Pháp trong tiếng Nam Bộ gồm những từ nào?

Lớp từ Pháp vào tiếng Nam Bộ cùng với đồ vật, nghề và phố xá của thời Pháp thuộc, và vào Sài Gòn trước rồi mới lan ra. Đây là lớp mượn dễ truy gốc nhất, vì tiếng gốc còn nguyên và quy tắc Việt hóa rất đều: cắt thành âm tiết, bỏ âm cuối lạ, gán thanh.

Viết cho người muốn biết vì sao mình nói xà bông, sơ mi, và cho người nghiên cứu cần một danh sách có gốc.

Từ Pháp vào tiếng Nam Bộ bằng đường nào?

Bằng đồ vật, nghề và phố xá. Xà bông, sơ mi, xe hơi tới cùng tên của chúng. Sốp phơ, lơ xe, thầy ký là nghề mới mang tên mới. Bót, ga, nhà dây thép là phố xá mới. Từ vào Sài Gòn trước, vì đồ vật và nghề mới tới Sài Gòn trước.

Quy tắc Việt hóa từ Pháp là gì?

Ba bước rất đều: cắt từ thành từng âm tiết, bỏ hoặc thay âm cuối và cụm phụ âm không có trong tiếng Việt, và gán thanh điệu. Savon thành xà bông, chemise thành sơ mi, chauffeur thành sốp phơ, garage thành ga ra. Biết ba bước này là đoán được gốc của phần lớn từ trong lớp.

Từ về ăn uống gồm gì?

Cà phê, bơ, phó mát, ba tê, bít tết, ốp la, cà rem, la de, xúc xích, bánh mì kiểu Pháp, ra gu. Nhiều từ đã thành từ chung cả nước, vài từ như la de, cà rem là lời cũ hoặc chỉ còn ở người lớn tuổi Nam Bộ.

ba tê
Pâté, món gan xay, ăn với bánh mì.
ốp la
Oeufs au plat, trứng chiên nguyên lòng đỏ.
bít tết
Bifteck, thịt bò áp chảo.
cà rem
Crème, kem; cách gọi Nam Bộ, nay ít gặp.

Từ về mặc và đồ dùng gồm gì?

Sơ mi, cà vạt, va li, bóp, xà bông, gạc măng rê, ra đi ô, bàn ủi, đèn măng sông. Bóp là ví da từ portefeuille nói gọn. Gạc măng rê là tủ đựng thức ăn từ garde manger. Nhóm này nhiều từ còn sống vì đồ vật còn.

bóp
Ví da, từ portefeuille; còn dùng rộng ở Nam Bộ.
gạc măng rê
Tủ đựng thức ăn có lưới, từ garde manger; nay là lời cũ.
xà bông
Savon, xà phòng; từ chung của Nam Bộ.

Từ về xe cộ và máy móc gồm gì?

Ô tô, xích lô, sốp phơ, lơ xe, ga ra, bù lon, ốc vít, bugi, phanh, ba ga, xăng. Nam Bộ có vài từ riêng trong nhóm này so với vốn từ chung, như gọi phanh là thắng và gọi săm lốp là ruột vỏ, nhưng những từ ấy là từ Việt, không phải từ Pháp.

sốp phơ
Chauffeur, tài xế; nay là lời cũ.
ba ga
Bagage, chỗ chở đồ sau xe; còn dùng.
bù lon
Boulon, con bù lon; còn dùng.

Từ về phố xá và sở gồm gì?

Bót, ga, nhà ga, phông tên, sở, bờ kè, ban công. Bót là đồn từ poste, phông tên là vòi nước công cộng từ fontaine. Nhóm này nhiều từ thành lời cũ vì phố xá đổi.

Từ nào thành từ chung cả nước?

Cà phê, xà bông, sơ mi, ô tô, xích lô, va li, cà vạt, ga, bù lon. Chúng theo hàng hóa và báo chí đi khắp nơi, và nay không ai thấy là từ Nam Bộ hay từ mượn.

Từ nào chỉ còn ở Nam Bộ hoặc chỉ còn ở người lớn tuổi?

La de, bót, sốp phơ, phông tên, gạc măng rê, cà rem, mã tà theo cùng thời. Chúng gắn với đồ vật và nghề đã mất hoặc bị từ mới thay, và còn trong lời người lớn tuổi và trong sách của Vương Hồng Sển.

Từ Pháp có Việt hóa sâu như từ Khmer không?

Chưa, vì mới hơn nhiều. Phần lớn từ Pháp còn nhận ra gốc khi nghe, và người biết tiếng Pháp đọc ra ngay. Vài từ vào sớm và dùng nhiều như xà bông, bóp đã sâu hơn, nhưng cả lớp vẫn còn dấu vết âm gốc.

Từ Pháp trong tiếng Nam Bộ có khác từ Pháp ở nơi khác không?

Có ở vài từ chỉ Nam Bộ mới mượn hoặc mượn theo cách riêng: la de, cà rem, sốp phơ, ba ga là dạng Nam Bộ. Và có ở những chỗ Nam Bộ dùng từ Việt thay vì mượn, như thắng, ruột, vỏ. Từ điển ghi nhãn vùng cho những từ ấy.

Từ Pháp có bị coi là kém chuẩn không?

Không. Cà phê, xà bông, sơ mi đứng trong văn bản nào cũng được. Chỉ những từ đã thành lời cũ thì cần cân nhắc: viết la de trong bài hôm nay là cố ý gợi thời cũ.

Làm sao kiểm một từ có thật gốc Pháp không?

Đối chiếu với từ Pháp có nghĩa trùng, xem từ có thuộc lĩnh vực đồ vật, nghề, phố xá của thời ấy không, và xem dạng Việt có đi đúng ba bước Việt hóa không. Lớp Pháp là lớp dễ kiểm nhất vì tiếng gốc còn nguyên và có từ điển.

Từ điển ghi lớp từ Pháp thế nào?

Ghi tiếng gốc là Pháp, dạng gốc, nghĩa gốc nếu khác nghĩa Việt, và nhãn thời nếu là lời cũ. Từ điển VietLayers ghi thêm nhãn vùng cho những từ chỉ Nam Bộ dùng.

Nghe lớp từ này ở đâu?

Ở người lớn tuổi Sài Gòn, ở tiệm sửa xe, ở quán ăn có ba tê và ốp la, và trong sách của Vương Hồng Sển. Tiệm sửa xe là nơi nghe được nhiều từ Pháp còn sống nhất, vì nghề máy giữ từ của thời máy tới.

Nên đọc gì thêm?

Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển để thấy từ trong đời sống, và phần nguồn gốc trong từng mục từ. Người muốn đi sâu chỉ cần một từ điển Pháp Việt và ba bước Việt hóa là tự kiểm được phần lớn.

Từ nào ở đây đã có trong từ điển?

Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.

  • xà bông
  • sơ mi
  • bót
  • la de
  • sốp phơ
  • ga ra
  • bù lon
  • cà rem
  • ba tê
  • ốp la
  • bít tết
  • xích lô
  • ba ga
  • phông tên
  • gạc măng rê
  • cà vạt
  • va li

Dựa trên những công trình nào?

Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.

  • Vương Hồng Sển, Sài Gòn năm xưa (1960). Dẫn nhiều từ gốc Pháp trong đời sống Sài Gòn với hoàn cảnh dùng.

Cùng giải thích cho bài Nam Bộ có những lớp từ vay mượn nào, còn bài nào?

Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.