Hiểu cho đúng
Vùng nói trong Nam Bộ gồm những vùng nào?
Tiếng Nam Bộ là một phương ngữ, nhưng bên trong nó có nhiều vùng nói, và người trong vùng nghe vài câu là biết người nói ở đâu. Sài Gòn có giọng phố pha nhiều nguồn. Miền Đông gần Sài Gòn nhưng giữ vần rõ hơn. Miền Tây có giọng kéo, r có nơi thành g, và bên trong miền Tây còn có cù lao, ven biển, vùng biên với nét riêng.
Viết cho người nghiên cứu cần bản đồ vùng nói, và cho người Nam Bộ tò mò vì sao giọng xóm mình khác giọng xóm bên.
Tiếng Nam Bộ có mấy vùng nói lớn?
Ba vùng lớn: Sài Gòn, miền Đông và miền Tây. Ba vùng cùng một hệ âm nhưng khác ở độ nặng của phụ âm uốn lưỡi, cách đọc r và v, độ kéo của thanh, và vốn từ. Bên trong miền Tây còn chia nhỏ nữa theo cù lao, ven biển và vùng biên.
Giọng Sài Gòn nhận ra bằng gì?
Bằng độ nhẹ ở đầu tiếng và độ pha. Uốn lưỡi nhẹ hơn miền Tây, r đọc đều và không thành g, thanh ít kéo, và từ mượn nhiều. Vì là nơi gặp gỡ nên giọng Sài Gòn ít nét vùng hẹp, và đó là lý do nó thành giọng chung nghe trên phát thanh và sân khấu.
Giọng miền Đông nhận ra bằng gì?
Bằng vị trí giữa: gần Sài Gòn về độ nhẹ, nhưng giữ vần rõ hơn và còn nhiều từ nghề rừng, nghề rẫy, nghề cao su. Biên Hòa, Bà Rịa, Tây Ninh, Bình Dương mỗi nơi có nét nhỏ, và miền Đông là vùng ít được ghi nhất trong ba vùng lớn.
Giọng miền Tây nhận ra bằng gì?
Bằng bốn nét: v đọc thành d rất đều, nguyên âm đôi rút ngắn, thanh kéo dài, và ở nhiều nơi r đọc thành g. Vốn từ về sông nước, ghe xuồng, mùa nước nổi và cây trái dày đặc. Đây là vùng giữ nhiều từ cũ nhất và được văn học ghi nhiều nhất.
Miền Tây chia nhỏ ra sao?
Theo nước và theo đất: vùng sông Tiền và sông Hậu, các cù lao giữa sông, dải ven biển từ Gò Công tới Cà Mau, và vùng biên giới An Giang, Kiên Giang. Mỗi vùng nhỏ có nét âm và nét từ riêng, phần lớn chưa được ghi thành hệ thống.
- cù lao
- Đảo giữa sông, giọng thường giữ nét cũ vì ít pha.
- ven biển
- Từ nghề biển, nghề muối, nghề ruộng mặn.
- vùng biên
- Nhiều từ tiếp xúc với tiếng Khmer.
R thành g là ở đâu?
Được ghi nhiều nhất ở một số nơi thuộc Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long và vài vùng lân cận: rồi nghe như gồi, ra nghe như ga. Nét này không đều khắp một tỉnh mà đi theo xóm và theo lứa tuổi, nên chỉ nên ghi ở mức xóm đã nghe, không gán cho cả tỉnh.
Vùng biên có gì riêng?
Nhiều từ và tên đất gốc Khmer, và một số nét âm do sống chung lâu đời với người Khmer: An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh. Người vùng này thường biết cả hai tiếng, và tiếng Việt ở đây có lớp từ về chùa, lễ, cây thốt nốt mà nơi khác không có.
Vùng có đông người Hoa có gì riêng?
Lớp từ Triều Châu về gia đình và món ăn: tía, hia, chế, hủ tiếu, ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ và Chợ Lớn. Ở Chợ Lớn thêm lớp Quảng Đông. Những nơi này tiếng Việt có thêm một tầng từ mượn, và cách đọc vài từ mượn còn giữ âm gốc.
Miệt vườn, miệt thứ, miệt ruộng là chia vùng kiểu gì?
Là cách người miền Tây tự chia vùng theo đời sống, không theo hành chính. Miệt vườn là vùng đất cao ven sông trồng cây trái, miệt thứ là vùng Kiên Giang có kênh đánh số thứ, miệt ruộng là vùng đồng lúa. Mỗi miệt có vốn từ riêng về cây, nước và nghề.
- miệt vườn
- Vùng vườn cây trái ven sông Tiền, sông Hậu.
- miệt thứ
- Vùng có các kênh đánh số thứ ở Kiên Giang.
- miệt ruộng
- Vùng đồng lúa, đất thấp.
Giọng thay đổi theo tuổi hay theo nơi nhiều hơn?
Theo cả hai, và ở miền Tây theo tuổi nhiều hơn hôm nay. Người trên sáu mươi giữ nét vùng đầy đủ, người trẻ nói gần giọng Sài Gòn hơn vì trường học, truyền hình và đi làm xa. Vì thế khi ghi giọng một vùng, phải ghi tuổi người nói, nếu không số liệu vô nghĩa.
Người trong vùng phân biệt giọng nhau bằng gì?
Bằng vài nét nhỏ mà người ngoài không nghe ra: cách đọc r, độ kéo thanh huyền, cách ngắt câu, một hai từ đặc trưng. Người Cần Thơ nghe ra người Bến Tre, người Cà Mau nghe ra người Sóc Trăng, bằng chính những nét ấy.
Có bản đồ vùng nói nào chưa?
Chưa có bản đồ đủ chi tiết tới mức xóm. Sách phương ngữ học chia ba vùng lớn, còn các tiểu vùng miền Tây mới được ghi lẻ tẻ. Đây là đề tài tốt cho người nghiên cứu: chọn hai xóm cạnh nhau, ghi âm ba lứa tuổi mỗi xóm, và so vài nét âm.
Từ điển ghi vùng nói thế nào?
Ở mức có chứng cứ: Nam Bộ chung, Sài Gòn, miền Đông, miền Tây, và khi có ghi âm hay chứng liệu rõ thì ghi tới tỉnh hoặc vùng nhỏ. Từ điển VietLayers không gán một từ cho cả miền Tây chỉ vì nghe ở một xóm.
Viết nhân vật theo vùng thì cần gì?
Cần chọn vùng trước rồi giữ đúng vài nét của vùng ấy trong lời thoại: người miền Tây nói thiệt, hổng, dữ và kéo giọng; người Sài Gòn nói nhanh, nhiều từ mượn. Đừng cho một nhân vật mang nét của cả ba vùng, người đọc trong vùng sẽ thấy giả.
Nghe từng vùng ở đâu?
Ở chợ của từng nơi, ở người lớn tuổi, và ở cải lương với các nghệ sĩ gốc từng tỉnh. Cải lương là kho giọng miền Tây lớn nhất còn giữ được, và nhiều nghệ sĩ giữ nguyên giọng quê mình trong lời thoại.
Vùng nói có liên quan gì tới chính tả không?
Có ở chỗ lỗi: người miền Tây lẫn v với d nhiều hơn vì v thành d đều hơn, và nơi r thành g thì có người viết g thay r. Biết vùng nói của mình là biết mình dễ sai chỗ nào, và tra đúng chỗ ấy.
Từ nào ở đây đã có trong từ điển?
Từ nào đã có mục riêng thì bấm được và mở thẳng mục từ đó. Từ chưa bấm được là từ đang chờ biên tập, chưa có mục.
Dựa trên những công trình nào?
Những tác phẩm và công trình dưới đây là chỗ dựa của bài. VietLayers tự viết định nghĩa và không dẫn trang tra từ trên mạng.
- Hoàng Thị Châu, Phương ngữ học tiếng Việt (2004). Đặt khung mô tả vùng nói theo nét âm, dùng để tả từng tiểu vùng ở đây.
- Sơn Nam, Văn minh miệt vườn (1970). Phân biệt miệt vườn, miệt thứ, miệt ruộng theo đời sống, một cách chia vùng từ bên trong.
Cùng giải thích cho bài Ngữ âm Nam Bộ có hệ thống ra sao, còn bài nào?
Một bước trong hành trình hiểu Tiếng miền Nam.